Hợp đồng có nhiều ngôn ngữ và 02 lưu ý để hạn chế rủi ro tranh chấp phát sinh từ việc sử dụng nhiều ngôn ngữ

Hợp đồng nhiều ngôn ngữ

Hiện nay, có rất nhiều hợp đồng được giao kết, thực hiện tại Việt Nam nhưng lại được soạn thảo bằng cả tiếng Việt lẫn tiếng nước ngoài. Vấn đề này có thể vì lý do một trong các bên giao kết là tổ chức/ cá nhân nước ngoài, nên các bên sử dụng tiếng nước ngoài để thỏa thuận và giao kết hợp đồng, đồng thời có thêm tiếng Việt Nam cho vấn đề kế toán, thuế, thanh tra, kiểm tra tại Việt Nam.

Thông qua bài viết này, BLawyers Vietnam sẽ trình bày khái quát về quy định về ngôn ngữ trong hợp đồng như nêu trên và những lưu ý theo quy định của pháp luật Việt Nam.

1. Nguyên tắc chung về việc lựa chọn và áp dụng ngôn ngữ cho hợp đồng

Theo luật Việt Nam hiện hành, Bộ luật dân sự 2015Luật thương mại 2005 là cơ sở pháp lý chính để điều chỉnh những nội dung liên quan đến giao dịch dân sự, thương mại tại Việt Nam. Tuy nhiên, cả hai luật này đều không có điều khoản quy định cụ thể về ngôn ngữ mà các bên sử dụng trong việc xác lập, thực hiện hợp đồng. Do đó, dựa trên nguyên tắc tự do thỏa thuận, các bên có thể lựa chọn ngôn ngữ giao kết trong hợp đồng là tiếng Việt hoặc tiếng nước ngoài hoặc có thể có nhiều ngôn ngữ khác nhau.

Tuy nhiên, các bên cần lưu ý trong một số lĩnh vực riêng biệt, một số luật chuyên ngành lại có quy định bắt buộc về vấn đề sử dụng tiếng Việt trong hợp đồng. Theo đó, khi soạn thỏa hợp đồng bằng tiếng nước ngoài, các bên phải chuẩn bị thêm bản bằng ngôn ngữ tiếng Việt cho hợp đồng cho hợp đồng đó. Có thể kể đến như là:

  1. Theo Luật Bưu chính 2010, hợp đồng cung ứng và sử dụng dịch vụ bưu chính bằng văn bản phải được lập bằng tiếng Việt; nếu các bên có thỏa thuận sử dụng thêm ngôn ngữ khác thì văn bản bằng tiếng Việt và văn bản bằng ngôn ngữ khác có giá trị pháp lý như nhau.
  2. Theo Luật Công chứng 2014, nếu hợp đồng thuộc trường hợp bắt buộc công chứng (ví dụ chuyển nhượng, thế chấp, góp vốn nhà, đất của cá nhân, hộ gia đình) thì ngôn ngữ và chữ viết dùng trong công chứng là tiếng Việt. Theo đó, khi các bên soạn thảo hợp đồng bằng ngôn ngữ khác thì pháp luật yêu cầu là phải chuẩn bị thêm cả bản tiếng Việt cho hợp đồng đi kèm.
  3. Theo Nghị định số 37/2015/NĐ-CP, ngôn ngữ sử dụng cho hợp đồng xây dựng là tiếng Việt. Đối với hợp đồng xây dựng có yếu tố nước ngoài thì ngôn ngữ sử dụng là tiếng Việt và tiếng nước ngoài do các bên thỏa thuận lựa chọn; trường hợp không thỏa thuận được thì sử dụng tiếng Anh.
2. Hạn chế rủi ro về mâu thuẫn giữa các ngôn ngữ của bản hợp đồng có nhiều ngôn ngữ khác nhau

Trên thực tế, việc soạn thảo hợp đồng cả bằng tiếng Việt và ngôn ngữ khác cũng có thể dẫn đến sự mâu thuẫn về mặt nội dung giữa các ngôn ngữ hợp đồng và khi đó, các bên có thể phát sinh các tranh chấp về việc nên ưu tiên áp dụng ngôn ngữ nào diễn giải hợp đồng đó.

Về nguyên tắc, khi phát sinh tranh chấp như vậy, các cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp (như Tòa án hoặc Trọng tài Thương mại) sẽ căn cứ vào việc thỏa thuận ngôn ngữ ưu tiên áp dụng cho hợp đồng. Tuy nhiên, nếu các bên cũng không thỏa thuận ưu tiên áp dụng cho hợp đồng, trên thực tế đã có trường hợp cơ quan giải quyết tranh chấp rà soát toàn bộ nội dung của hợp đồng cũng như các thỏa thuận bên ngoài hợp đồng để có cơ sở xác định ngôn ngữ nào được ưu tiên áp dụng cho hợp đồng.

Do đó, để hạn chế rủi ro phát sinh tranh chấp do mâu thuẫn giữa các ngôn ngữ của bản hợp đồng có nhiều ngôn ngữ khác nhau, các bên nên lưu ý thỏa thuận việc ưu tiên ngôn ngữ nào.

Nội dung nêu trên không phải là ý kiến tư vấn chính thức từ BLawyers Vietnam. Nếu bạn có bất kỳ câu hỏi hoặc góp ý về nội dung trên, vui lòng liên hệ với chúng tôi qua địa chỉ consult@blawyersvn.com. Chúng tôi rất vui khi nghe từ bạn.

Ngày: 02/4/2024

Người viết: Minh Trương

blawyersvn-cta-image

Yêu cầu tư vấn luật miễn phí

Vui lòng gọi cho chúng tôi hoặc điền vào mẫu đơn bên dưới. Chúng tôi sẽ phản hồi bạn trong vòng 24 giờ đồng hồ.

This field is for validation purposes and should be left unchanged.