Phần 1. Lưu ý về quyền rút vốn ra khỏi doanh nghiệp và thực tiễn giải quyết tranh chấp có liên quan

quyền và cách thức rút vốn trong doanh nghiệp

Nhằm mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận, các cá nhân, tổ chức thường góp vốn cùng nhau thành lập doanh nghiệp và tiến hành hoạt động kinh doanh. Vốn góp của các thành viên tạo thành vốn điều lệ của doanh nghiệp và gắn liền với sự tồn tại của doanh nghiệp cho đến khi giải thể hoặc bị phá sản. Xuất phát từ việc đã bỏ tiền, tài sản, trí tuệ của mình vào cho doanh nghiệp, các cá nhân, tổ chức cũng rất quan tâm đến quyền của họ trong việc rút những khoản vốn đã góp đó ra khỏi doanh nghiệp theo mong muốn.

Tại phần 1 của chủ đề này, BLawyers Vietnam sẽ trình bày một số lưu ý của pháp luật Việt Nam về quyền và cách thức rút vốn trong doanh nghiệp.

1. Điều kiện và các hình thức rút vốn ra khỏi doanh nghiệp

Về nguyên tắc, pháp luật doanh nghiệp Việt Nam hạn chế quyền rút vốn của tổ chức, cá nhân góp vốn. Nhằm bảo vệ, bảo đảm trách nhiệm của doanh nghiệp đối với các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản, họ chỉ được quyền rút vốn trong một số trường hợp và dưới các hình thức cụ thể được quy định bởi pháp luật.

Tuỳ thuộc vào từng loại hình doanh nghiệp mà quyền rút vốn của tổ chức, cá nhân góp vốn cũng được pháp luật quy định khác nhau. Cụ thể như sau:

a. Công ty TNHH một thành viên:

Công ty TNHH một thành viên là doanh nghiệp do một tổ chức hoặc cá nhân làm chủ sở hữu, góp 100% vốn điều lệ.

Chủ sở hữu công ty TNHH một thành viên được quyền rút vốn bằng các hình thức sau đây:

(i) Chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ vốn điều lệ của công ty cho tổ chức hoặc cá nhân khác. Trong trường hợp này, vốn điều lệ của Công ty sẽ không bị giảm xuống. Tuỳ thuộc vào việc vốn điều lệ được chuyển nhượng toàn bộ hay một phần mà Công ty sẽ phải tổ chức thay đổi loại hình doanh nghiệp hoặc không.

(ii) Công ty hoàn trả một phần vốn góp cho chủ sở hữu, với điều kiện là công ty đã hoạt động kinh doanh liên tục từ 02 năm trở lên kể từ ngày đăng ký thành lập và bảo đảm thanh toán đủ các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác sau khi đã hoàn trả phần vốn góp cho chủ sở hữu. Trong trường hợp này, vốn điều lệ công ty sẽ bị giảm xuống một phần tương ứng với phần vốn đã hoàn trả.

b. Công ty TNHH hai thành viên trở lên

Công ty TNHH hai thành viên trở lên là doanh nghiệp có từ 02 đến 50 thành viên là tổ chức, cá nhân. Thành viên góp vốn của Công ty TNHH hai thành viên trở lên không được rút vốn đã góp ra khỏi công ty dưới mọi hình thức, ngoại trừ các hình thức do pháp luật quy định sau đây:

(i) Yêu cầu công ty mua lại phần vốn góp. Theo đó, quyền yêu cầu này chỉ phát sinh khi thành viên đã bỏ phiếu không tán thành đối với nghị quyết, quyết định của Hội đồng thành viên về các vấn đề:

  • Sửa đổi, bổ sung các nội dung trong Điều lệ công ty liên quan đến quyền và nghĩa vụ của thành viên, Hội đồng thành viên;
  • Tổ chức lại công ty; và
  • Trường hợp khác theo quy định tại Điều lệ công ty.

Trong trường hợp này, vốn điều lệ của công ty sẽ bị giảm xuống.

(ii) Chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ phần vốn góp theo quy định của pháp luật. Về nguyên tắc, việc chuyển nhượng phần vốn góp phải được chào bán trước cho các thành viên còn lại của công ty theo tỷ lệ tương ứng mà họ đang sở hữu. Nếu các thành viên không mua hoặc không mua hết trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày chào bán thì thành viên được quyền chuyển nhượng cho người khác. Trong trường hợp này, vốn điều lệ của công ty không thay đổi.

(iii) Công ty hoàn trả một phần vốn góp cho tất cả thành viên theo tỷ lệ phần vốn góp của họ trong vốn điều lệ của công ty, với điều kiện như áp dụng đối với Công ty TNHH một thành viên nêu trên. Trong trường hợp này, vốn điều lệ của công ty sẽ bị giảm xuống.

Lưu ý: Việc hoàn trả một phần vốn góp sẽ được thực hiện đối với tất cả các thành viên, mà không phải cho hoặc theo yêu cầu của riêng một thành viên nào đó.

(iv) Ngoài ra, có một số trường hợp tổ chức, cá nhân được xem là “rút vốn” và không còn là thành viên góp vốn của Công ty như sau:

  • Sử dụng phần vốn góp để trả nợ. Cũng theo đó, người nhận thanh toán nợ bằng phần vốn góp có thể trở thành thành viên công ty nếu được Hội đồng thành viên chấp thuận hoặc có thể chào bán, chuyển nhượng phần vốn góp theo quy định.
  • Tặng cho toàn bộ phần vốn góp cho người khác. Nếu người được tặng cho phần vốn góp không thuộc đối tượng thừa kế của thành viên tặng cho theo quy định của pháp luật Việt Nam và không được Hội đồng thành viên chấp thuận để trở thành thành viên công ty, phần vốn góp được công ty mua lại hoặc được chuyển nhượng theo quy định.
  • Được thừa kế phần vốn góp nhưng không muốn trở thành thành viên công ty và phần vốn được hưởng được công ty mua lại hoặc được chuyển nhượng theo quy định.
c. Công ty cổ phần

Các tổ chức, cá nhân có sở hữu vốn (hay được hiểu là cổ phần) trong công ty cổ phần được gọi là cổ đông. Tương tự như công ty TNHH hai thành viên trở lên, cổ đông của Công ty cổ phần chỉ có thể rút vốn khỏi công ty theo các hình thức sau đây:

(i) Được công ty mua lại cổ phần. Theo quy định, Cổ đông đã biểu quyết không thông qua nghị quyết về việc tổ chức lại công ty hoặc thay đổi quyền, nghĩa vụ của cổ đông quy định tại Điều lệ công ty có quyền yêu cầu công ty mua lại cổ phần của mình. Mặt khác, Công ty cũng có quyền quyết định việc mua lại không quá 30% tổng số cổ phần phổ thông.

(ii) Được người khác mua lại cổ phần: Cổ đông thực hiện quyền chuyển nhượng cổ phần theo quy định của pháp luật.

(iii) Tất cả các cổ đông được công ty hoàn trả một phần vốn góp theo tỷ lệ sở hữu cổ phần dựa trên quyết định của Đại hội đồng cổ đông, với điều kiện tương tự như áp dụng đối với Công ty TNHH một thành viên hoặc Công ty TNHH hai thành viên trở lên nói trên.

(iv) Tặng cho một phần hoặc toàn bộ cổ phần cho cá nhân, tổ chức khác; sử dụng cổ phần để trả nợ. Theo đó, cá nhân, tổ chức được tặng cho hoặc nhận trả nợ bằng cổ phần sẽ trở thành cổ đông của công ty.

Trường hợp có cổ đông rút cổ phần đã góp trái với quy định của pháp luật thì cổ đông đó và người có lợi ích liên quan trong công ty phải cùng liên đới chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi giá trị cổ phần đã bị rút và các thiệt hại xảy ra.

d. Công ty hợp danh

Công ty hợp danh phải có ít nhất 02 cá nhân làm thành viên hợp danh và có thể có cá nhân, tổ chức khác làm thành viên góp vốn. Thành viên hợp danh chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty. Thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn đã cam kết góp.

Thành viên hợp danh có quyền rút vốn khỏi công ty nếu được Hội đồng thành viên chấp thuận. Trường hợp này, thành viên đó phải thông báo bằng văn bản yêu cầu rút vốn chậm nhất là 06 tháng trước ngày rút vốn; chỉ được rút vốn vào thời điểm kết thúc năm tài chính và báo cáo tài chính của năm tài chính đó đã được thông qua.

Trong thời hạn 02 năm kể từ ngày rút vốn, thành viên đó vẫn phải liên đới chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với các khoản nợ của công ty đã phát sinh trước ngày rút vốn.

Ngoài ra, thành viên hợp danh còn có thể rút vốn bằng hình thức chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ phần vốn góp của mình tại công ty cho người khác nếu được sự chấp thuận của các thành viên hợp danh còn lại.

Việc rút vốn của thành viên góp vốn được thực hiện bằng hình thức chuyển nhượng phần vốn góp cho người khác. Thành viên hợp vốn được tự do chuyển nhượng phần vốn góp cho người khác.

Nội dung nêu trên không phải là ý kiến tư vấn chính thức từ BLawyers Vietnam. Nếu bạn có bất kỳ câu hỏi hoặc góp ý về nội dung trên, vui lòng liên hệ với chúng tôi qua địa chỉ consult@blawyersvn.com. Chúng tôi rất vui khi nghe từ bạn.

Ngày: 20/02/2024

Người viết: Trinh Nguyễn

blawyersvn-cta-image

Yêu cầu tư vấn luật miễn phí

Vui lòng gọi cho chúng tôi hoặc điền vào mẫu đơn bên dưới. Chúng tôi sẽ phản hồi bạn trong vòng 24 giờ đồng hồ.

This field is for validation purposes and should be left unchanged.