Trong kinh doanh thương mại, hợp đồng mua bán hàng hóa là nền tảng để ghi nhận quyền lợi và nghĩa vụ của các bên. Khi xảy ra tranh chấp, việc áp dụng chế tài theo thỏa thuận trong hợp đồng là cần thiết để bảo vệ quyền lợi của bên bị vi phạm. Trong bài viết này, BLawyers Vietnam sẽ phân tích các yếu tố cần lưu ý khi áp dụng chế tài phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại, giúp doanh nghiệp xử lý tranh chấp hiệu quả và bảo vệ quyền lợi hợp pháp.
1. Lưu ý khi áp dụng chế tài phạt vi phạm hợp đồng
1.1. Lưu ý về cơ sở áp dụng chế tài phạt vi phạm hợp đồng
Phạt vi phạm là một trong các chế tài trong thương mại được quy định trong Luật Thương mại 2005, theo đó bên bị vi phạm có quyền yêu cầu bên vi phạm trả một khoản tiền phạt do vi phạm hợp đồng nếu trong hợp đồng có thoả thuận, trừ các trường hợp miễn trách nhiệm.
Theo quy định nêu trên, chế tài phạt vi phạm chỉ được áp dụng nếu trong hợp đồng có thỏa thuận. Vì vậy, các bên trong hợp đồng mua bán hàng hóa cần lưu ý thỏa thuận và ghi nhận chế tài phạt vi phạm vào hợp đồng để có cơ sở áp dụng khi xảy ra hành vi vi phạm.
1.2. Lưu ý về mức phạt vi phạm hợp đồng
Bên cạnh đó, mức phạt vi phạm đối với vi phạm nghĩa vụ hợp đồng hoặc tổng mức phạt đối với nhiều vi phạm sẽ do các bên thỏa thuận trong hợp đồng, nhưng không vượt quá 8% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm, trừ trường hợp phạt vi phạm trong trường hợp kết quả giám định sai. Trên cơ sở đó, các bên trong hợp đồng mua bán hàng hóa cần lưu ý ghi nhận cụ thể mức phạt vi phạm sẽ được áp dụng trong hợp đồng, hoặc cho từng nghĩa vụ cụ thể trong hợp đồng, nhưng không được quá 8% giá trị phần nghĩa vụ đó, tránh trường hợp cơ quan giải quyết tranh chấp có thẩm quyền không chấp nhận mức phạt vi phạm hợp đồng.
2. Lưu ý khi áp dụng chế tài bồi thường thiệt hại hợp đồng
2.1. Lưu ý về cơ sở áp dụng chế tài bồi thường thiệt hại hợp đồng
Bồi thường thiệt hại là một chế tài thương mại khác được quy định trong Luật Thương mại 2005, theo đó bên vi phạm bồi thường những tổn thất do hành vi vi phạm hợp đồng gây ra cho bên bị vi phạm.
Khác với quy định của chế tài phạt vi phạm, chế tài bồi thường thiệt hại sẽ phát sinh khi có đủ các căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại, bao gồm các yếu tố sau:
- Có hành vi vi phạm hợp đồng;
- Có thiệt hại thực tế;
- Hành vi vi phạm hợp đồng là nguyên nhân trực tiếp gây ra thiệt hại.
Theo định nghĩa trên nêu trên, quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại của bên bị vi phạm sẽ phát sinh nếu đáp ứng đầy đủ các yếu tố nêu trên, mà không phụ thuộc vào việc thỏa thuận giữa các bên được ghi nhận trong hợp đồng.
2.2. Lưu ý về xác định thiệt hại thực tế
Với yếu tố có thiệt hại thực tế, bên yêu cầu bồi thường thiệt hại – tức bên bị vi phạm, có nghĩa vụ chứng minh tổn thất, mức độ tổn thất do hành vi vi phạm gây ra và khoản lợi trực tiếp mà bên bị vi phạm đáng lẽ được hưởng nếu không có hành vi vi phạm.
Bên cạnh nghĩa vụ chứng minh tổn thất, bên bị vi phạm còn có nghĩa vụ hạn chế tổn thất. Theo đó, bên yêu cầu bồi thường thiệt hại phải áp dụng các biện pháp hợp lý để hạn chế tổn thất kể cả tổn thất đối với khoản lợi trực tiếp đáng lẽ được hưởng do hành vi vi phạm hợp đồng gây ra. Nếu bên yêu cầu bồi thường thiệt hại không áp dụng các biện pháp đó, bên vi phạm hợp đồng có quyền yêu cầu giảm bớt giá trị bồi thường thiệt hại bằng mức tổn thất đáng lẽ có thể hạn chế được.
Theo đó, thiệt hại thực tế của bên bị vi phạm sẽ là tổng hợp của các tổn thất do hành vi vi phạm của bên vi phạm gây ra, mà các tổn thất đó đã được bên bị vi phạm áp dụng các biện pháp hợp lý để hạn chế các tổn thất đó. Việc quy định nghĩa vụ hạn chế tổn thất nêu trên sẽ góp phần hạn chế thiệt hại đến mức thấp nhất, cũng như tránh bên có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại lợi dụng việc vi phạm hợp đồng để làm cho thiệt hại lớn hơn, nhằm yêu cầu bồi thường thiệt hại thái quá từ bên vi phạm.
3. Lưu ý về cách áp dụng chế tài phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại
Theo quy định của Luật Thương mại 2005, trong trường hợp các bên không có thỏa thuận phạt vi phạm thì bên bị vi phạm chỉ có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại; trong trường hợp các bên có thỏa thuận phạt vi phạm thì bên bị vi phạm có quyền áp dụng cả chế tài phạt vi phạm và buộc bồi thường thiệt hại.
Như đã đề cập ở Mục 2.2., thiệt hại thực tế của bên bị vi phạm tổng hợp từ các tổn thất do hành vi vi phạm của bên vi phạm gây ra, được bên bị vi phạm áp dụng các biện pháp hợp lý để hạn chế các tổn thất đó, được xem là căn cứ để xác định mức thiệt hại thực tế để yêu cầu bồi thường thiệt hại.
Việc thỏa thuận một mức bồi thường thiệt hại chung và ấn định trong hợp đồng vẫn chưa được đề cập cụ thể hoặc quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật. Vì vậy, việc áp dụng mức bồi thường thiệt hại theo thỏa thuận trong hợp đồng không có cơ sở pháp lý để các cơ quan giải quyết tranh chấp áp dụng và chấp thuận.
Để tránh trường hợp bị cơ quan giải quyết tranh chấp từ chối áp dụng mức bồi thường thiệt hại theo thỏa thuận, hoặc không thể yêu cầu áp dụng chế tài phạt vi phạm, các bên trong hợp đồng mua bán hàng hóa nên quy định cụ thể các nội dung sau:
- Xác định rõ ràng các điều khoản về bồi thường thiệt hại, ví dụ như cách tính toán thiệt hại, tổn thất, các biện pháp hạn chế tổn thất;
- Quy định thời gian cụ thể và phương thức thông báo vi phạm, bao gồm thời hạn khắc phục, chế tài dự định áp dụng khi hết thời hạn khắc phục và các biện pháp hạn chế tổn thất sẽ áp dụng (nếu có);
- Xác định rõ trách nhiệm của các bên trong việc cung cấp chứng cứ và tài liệu liên quan đến thiệt hại và vi phạm;
- Quy định rõ các trường hợp có thể áp dụng chế tài phạt vi phạm, ví dụ như các trường hợp khó khăn trong việc chứng minh tổn thất.
Nội dung nêu trên không phải là ý kiến tư vấn chính thức từ BLawyers Vietnam. Nếu bạn có bất kỳ câu hỏi hoặc góp ý về nội dung trên, vui lòng liên hệ với chúng tôi qua địa chỉ info@blawyersvn.com. Chúng tôi rất vui khi nghe từ bạn.
Ngày: 12/8/2025
Người viết: Thái Bùi

