Quyền Con Người trong Chỉ thị thẩm định tính bền vững của doanh nghiệp của Hội đồng Châu Âu: Hướng tiếp cận nào doanh nghiệp Việt Nam cần lưu ý để tuân thủ?

Quyền Con Người trong Chỉ thị thẩm định tính bền vững của doanh nghiệp của Hội đồng Châu Âu

Liên quan đến Chỉ thị thẩm định tính bền vững của doanh nghiệp của Hội đồng Châu Âu (“Chỉ Thị”), một trong những trọng tâm của Chỉ Thị đó là quyền con người.

Trong bài viết này, BLawyers Vietnam sẽ trình bày các yêu cầu liên quan đến quyền con người theo quy định của Chỉ Thị, đồng thời đề xuất những hành động cụ thể mà các doanh nghiệp tại Việt Nam đang và sẽ là đối tác kinh doanh hoặc tham gia chuỗi cung ứng của các doanh nghiệp đến từ các quốc gia thành viên Liên minh Châu Âu cần cân nhắc triển khai để đáp ứng các yêu cầu pháp lý của thị trường Liên minh Châu Âu.

1. Các nội dung về quyền con người theo Chỉ Thị

Theo quy định tại Phụ lục I của Chỉ Thị, quyền con người được trình bày bao gồm:

  1. Quyền được sống, được giải thích theo Điều 6(1) của Công Ước Quốc tế về Quyền Dân sự và Chính trị (“Công Ước ICCPR”). Việc lạm dụng quyền đó bao gồm nhưng không giới hạn, các nhân viên bảo vệ tư nhân hoặc công cộng bảo vệ tài nguyên, cơ sở vật chất hoặc nhân viên của công ty, gây ra cái chết của một người do thiếu hướng dẫn hoặc kiểm soát từ phía công ty;
  2. Việc cấm tra tấn, đối xử tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục, được giải thích theo Điều 7 của Công Ước ICCPR. Điều này bao gồm, nhưng không giới hạn ở, các nhân viên bảo vệ tư nhân hoặc công cộng bảo vệ tài nguyên, cơ sở vật chất hoặc nhân viên của công ty, gây ra hành vi tra tấn hoặc đối xử tàn nhẫn, vô nhân đạo hoặc hạ nhục đối với một người do thiếu hướng dẫn hoặc kiểm soát từ phía công ty;
  3. Quyền tự do và an ninh, được giải thích theo Điều 9(1) của Công Ước ICCPR;
  4. Việc cấm can thiệp tùy tiện hoặc bất hợp pháp vào quyền riêng tư, gia đình, nhà ở hoặc thư tín của một người và các cuộc tấn công bất hợp pháp vào danh dự hoặc uy tín của họ, được giải thích theo Điều 17 của Công Ước ICCPR;
  5. Việc cấm can thiệp vào tự do tư tưởng, lương tâm và tôn giáo, được giải thích theo Điều 18 của Công Ước ICCPR;
  6. Quyền của trẻ em được hưởng tiêu chuẩn sức khỏe cao nhất có thể đạt được, được giải thích theo Điều 24 của Công Ước về Quyền Trẻ em (“Công Ước UNCRC”); quyền được giáo dục, được giải thích theo Điều 28 của Công Ước UNCRC; quyền có mức sống tiêu chuẩn, được giải thích theo Điều 27 của Công Ước UNCRC; quyền của trẻ em được bảo vệ khỏi sự bóc lột kinh tế và khỏi việc thực hiện bất kỳ công việc nào có khả năng gây nguy hiểm hoặc cản trở việc giáo dục của trẻ, hoặc gây hại cho sức khỏe hoặc sự phát triển thể chất, tinh thần, tâm linh, đạo đức hoặc xã hội của trẻ được giải thích theo Điều 32 Công Ước UNCRC; quyền của trẻ em được bảo vệ khỏi mọi hình thức bóc lột tình dục và lạm dụng tình dục và được bảo vệ khỏi việc bị bắt cóc, bán hoặc di chuyển trái phép đến nơi khác trong hoặc ngoài quốc gia của họ với mục đích bóc lột được giải thích theo Điều 34 và điều 35 của Công Ước UNCRC;
  7. Việc cấm gây ra bất kỳ sự suy thoái môi trường nào có thể đo lường được, chẳng hạn như sự thay đổi có hại cho đất đai, ô nhiễm nước hoặc không khí, phát thải độc hại, tiêu thụ nước quá mức, suy thoái đất hoặc tác động khác đến tài nguyên thiên nhiên, chẳng hạn như nạn phá rừng, mà:
    1. làm suy yếu đáng kể các cơ sở tự nhiên để bảo quản và sản xuất thực phẩm;
    2. tước quyền tiếp cận với nước uống an toàn và sạch sẽ của một người;
    3. gây khó khăn cho một người trong việc tiếp cận các thiết bị vệ sinh hoặc phá huỷ chúng;
    4. gây tổn hại đến sức khoẻ, sự an toàn, việc sử dụng đất đai hoặc tài sản hợp pháp của một người;
    5. gây ảnh hưởng bất lợi đáng kể đến các dịch vụ hệ sinh thái mà hệ sinh thái đó đóng góp trực tiếp hoặc gián tiếp vào phúc lợi con người;
      • được giải thích theo Điều 6(1) của Công Ước ICCPR và Điều 11 và 12 của Công Ước Quốc tế về các Quyền Kinh tế, Xã hội và Văn hóa (“Công Ước ICESCR”).
  8. Quyền của cá nhân, nhóm và cộng đồng đối với đất đai và tài nguyên cũng như quyền không bị tước đoạt phương tiện sinh hoạt, bao gồm việc cấm tước đoạt trái phép hoặc chiếm đoạt đất đai, rừng và nước một cách bất hợp pháp khi thu hồi, phát triển hoặc sử dụng đất đai, rừng và nước, bao gồm cả việc phá rừng, việc sử dụng rừng để đảm bảo sinh kế của một người, được giải thích theo Điều 1 và 27 của Công Ước ICCPR và Điều 1, 2 và 11 của Công Ước ICESCR.
2. Đối chiếu với quy định pháp luật hiện hành của Việt Nam, các doanh nghiệp cần phải làm gì để đảm bảo tuân thủ những yêu cầu về nhân quyền của Chỉ Thị?

2.1. Lưu ý về việc tuân thủ các quy định pháp luật Việt Nam về nhân quyền tương ứng

Các doanh nghiệp cần lưu ý và tuân thủ các quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành của Việt Nam sau:

  1. Quy định về quyền được sống, được bảo vệ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, riêng tư, nhà ở, tư tưởng và tôn giáo theo quy định của Luật Hiến pháp năm 2013;
  2. Quy định về quyền của trẻ em được bảo vệ về sức khỏe, chăm sóc và giáo dục, bảo vệ khỏi xâm hại tình dục, bạo lực, lạm dụng, bóc lột theo quy định của Luật Trẻ em năm 2016;
  3. Các hành vi bị nghiêm cấm trong hoạt động bảo vệ môi trường, gây ra bất kỳ sự suy thoái môi trường nào ảnh hưởng đến quyền tiếp cận với nước uống an toàn, sức khỏe của con người theo quy định của Luật bảo vệ môi trường năm 2020; và
  4. Quy định về quyền của cá nhân, nhóm và cộng đồng được bảo vệ đất đai và tài nguyên theo quy định tại Luật Đất đai 2024, Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 và các Nghị định quy định chi tiết các Luật này.

2.2. Hành động cụ thể liên quan đến công tác bảo vệ nhân quyền mà doanh nghiệp Việt Nam cần phải thực hiện

Có thể bao gồm:

  1. Tiến hành nghiên cứu và báo cáo định kỳ công khai các rủi ro về nhân quyền đang hiện diện trong doanh nghiệp và các kế hoạch cụ thể để khắc phục;
  2. Thiết lập các chính sách nhân quyền trong nội bộ doanh nghiệp dựa trên một số văn bản sau: Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền của Liên Hợp Quốc, Nguyên tắc định hướng về Kinh doanh và Quyền con người của Liên Hợp Quốc…;
  3. Thiết lập cơ chế phản hồi và giải quyết khiếu nại để người lao động của doanh nghiệp có thể độc lập báo cáo cáo khi xảy ra các vấn đề về nhân quyền; và
  4. Tích hợp quyền con người vào chiến lược phát triển bền vững của doanh nghiệp.

Nội dung nêu trên không phải là ý kiến tư vấn chính thức từ BLawyers Vietnam. Nếu bạn có bất kỳ câu hỏi hoặc góp ý về nội dung trên, vui lòng liên hệ với chúng tôi qua địa chỉ info@blawyersvn.com. Chúng tôi rất vui khi nghe từ bạn.

Ngày: 19/6/2025

Người viết: Thư Hà và Tuyền Dương

blawyersvn-cta-image

Yêu cầu tư vấn luật

Vui lòng gọi cho chúng tôi hoặc điền vào mẫu đơn bên dưới. Chúng tôi sẽ phản hồi bạn trong vòng 24 giờ đồng hồ.

This field is for validation purposes and should be left unchanged.