02 lưu ý quan trọng về nghĩa vụ chứng minh và cung cấp chứng cứ trong Tố tụng trọng tài tại Việt Nam

Thu thập, cung cấp chứng cứ là một trong những nội dung quan trọng trong quá trình giải quyết tranh chấp dù là trong tố tụng Toà án hay tố tụng Trọng tài. Hiện nay, Luật Trọng tài thương mại Việt Nam năm 2010 (“LTTTM 2010”) và các quy tắc tố tụng trọng tài của các Trung tâm Trọng tài tại Việt Nam không có nhiều quy định chi tiết về các vấn đề liên quan đến chứng minh và chứng cứ. Điều này đã gây khó khăn cho các bên và cả Hội đồng Trọng tài (“HĐTT”) trong việc giải quyết tranh chấp tại Trọng tài thương mại. 

Vậy với các quy định hiện có, nghĩa vụ chứng minh và cung cấp chứng cứ để giải quyết vụ việc được thực hiện như thế nào?

Vấn đề trên sẽ được BLawyers Vietnam trình bày đến bạn đọc thông qua bài viết này.

tố tụng

1. Chứng cứ trong Tố tụng trọng tài

LTTTM 2010 không có quy định về định nghĩa của chứng cứ. Hiện nay, việc xem xét và xác định các vấn đề về chứng cứ của Trọng tài viên, luật sư Việt Nam khi giải quyết tranh chấp tại Trọng tài chịu ảnh hưởng bởi những quy định về chứng cứ tại Bộ luật Tố tụng Dân sự Việt Nam.

Theo đó, chứng cứ được định nghĩa khá rộng, bao gồm tất cả những gì có thật, được thu thập đúng trình tự, thủ tục để làm rõ, xác minh các tình tiết của vụ việc, làm cơ sở để giải quyết yêu cầu, lập luận hoặc phản tố của các đương sự .

2. Quy định của LTTTM 2010 về nghĩa vụ chứng minh và cung cấp chứng cứ

2.1. Chứng minh và cung cấp chứng cứ vừa là quyền vừa là nghĩa vụ của nguyên đơn và bị đơn

Tương tự tố tụng tại Toà án Việt Nam và Trọng tài Quốc tế , pháp luật Trọng tài thương mại của Việt Nam quy định rằng nguyên đơn và bị đơn đều có quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ cho HĐTT để chứng minh cho các yêu cầu của mình và các sự việc có liên quan đến nội dung tranh chấp là có căn cứ.

Tuy vậy, các bên tranh chấp thường hiểu rằng HĐTT có nghĩa vụ phải thu thập chứng cứ theo yêu cầu của họ để giải quyết vụ việc. Do đó, thực tiễn xét xử tại một số Trung tâm Trọng tài tại Việt Nam cho thấy các bên chưa chủ động thu thập chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của mình mà sẽ đề nghị HĐTT thu thập.

Cần lưu ý rằng, thực tiễn đã xảy ra trường hợp: nguyên đơn khởi kiện tại Trọng tài nhưng không cung cấp được chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình kể từ khi thụ lý đơn khởi kiện cho đến ngày mở phiên họp cuối cùng. Tại phiên họp giải quyết tranh chấp cuối cùng, nguyên đơn có yêu cầu gia hạn thời gian cung cấp chứng cứ nhưng HĐTT không đồng ý và đã ra phán quyết không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Sau đó, nguyên đơn yêu cầu Toà án huỷ phán quyết Trọng tài vì cho rằng việc HĐTT không cho nguyên đơn thêm thời gian cung cấp tài liệu, chứng cứ là trái với nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam. Cuối cùng, Toà án có thẩm quyền nhận định rằng, phán quyết của HĐTT là không vi phạm các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam và không chấp nhận yêu cầu huỷ phán quyết trọng tài của nguyên đơn (Tham khảo Quyết định số 12/2018/QĐ-KDTM ngày 09/11/2018 của TAND TP. Hà Nội).

2.2. Nguyên đơn và bị đơn có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ theo yêu cầu của HĐTT

LTTTM 2010 hiện hành chưa quy định về quyền của HĐTT được yêu cầu các bên tranh chấp cung cấp chứng cứ. Tuy nhiên, về vấn đề này, Quy tắc tố tụng Trọng tài của Trung Tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (“VIAC”) đã có quy định rằng HĐTT có quyền yêu cầu các bên tranh chấp cung cấp chứng cứ, và các bên có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ theo đó.

2.3. Không có quy định về việc một bên tranh chấp được quyền trực tiếp yêu cầu bên còn lại cung cấp tài liệu, chứng cứ

Trong Tố tụng trọng tài tại Việt Nam, không có quy định rõ ràng cho phép một bên tranh chấp yêu cầu bên kia cung cấp, công khai chứng cứ. Mặt khác, tố tụng Trọng tài cũng không có quy định về việc mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, công khai chứng cứ như quy trình tố tụng tại Toà án Việt Nam.

Trong trường hợp này, khi nhận thấy cần thu thập tài liệu từ bên còn lại, một bên chỉ có thể yêu cầu HĐTT yêu cầu bên kia thực hiện hoạt động này, HĐTT sẽ cân nhắc và quyết định về việc có chấp nhận yêu cầu hay không.

2.4. Thẩm quyền của HĐTT trong việc thu thập chứng cứ

Theo quy định của LTTTM 2010, HĐTT có thể thu thập chứng cứ thông qua các hoạt động sau đây:

  1. Theo yêu cầu của một hoặc các bên, HĐTT yêu cầu người làm chứng cung cấp thông tin, tài liệu có liên quan đến việc giải quyết tranh chấp;
  2. Tự mình hoặc theo yêu cầu của một hoặc các bên, HĐTT trưng cầu giám định, định giá tài sản trong vụ tranh chấp để làm căn cứ cho việc giải quyết tranh chấp;
  3. Tự mình hoặc theo yêu cầu của một hoặc các bên, HĐTT tham vấn ý kiến của các chuyên gia; và
  4. Theo yêu cầu của một hoặc các bên và xét thấy cần thiết, HĐTT triệu tập người làm chứng tham gia phiên họp giải quyết tranh chấp.

Trên thực tế, việc áp dụng các quy định trên gặp một số khó khăn như sau:

  • Do HĐTT không phải là cơ quan tài phán nhà nước, không có quyền lực cưỡng chế nên người làm chứng thường không cung cấp chứng cứ, tài liệu hoặc không tham gia phiên họp giải quyết tranh chấp theo yêu cầu của HĐTT;
  • Việc giám định, định giá tài sản là nghĩa vụ của HĐTT hay thuộc thẩm quyền tự quyết của HĐTT chưa được hiểu rõ ràng; và
  • Việc tham vấn chuyên gia ít được sử dụng tại Trọng tài Việt Nam do thiếu các quy định pháp lý sâu hơn về vấn đề này.
2.5. Toà án hỗ trợ thu thập chứng cứ, triệu tập người làm chứng

Trong quá trình giải quyết tranh chấp tại Trọng tài, Toà án có thể tham gia hỗ trợ thu thập chứng cứ trong các trường hợp sau đây:

  • HĐTT, một hoặc các bên tranh chấp đề nghị Toà án cấp tỉnh nơi có chứng cứ hỗ trợ thu thập chứng cứ do đã sử dụng mọi cách thức và khả năng cho phép để yêu cầu bên thứ ba cung cấp chứng cứ nhưng vẫn không thành công . Lưu ý rằng, đề nghị gửi đến Toà án phải kèm theo chứng cứ chứng minh việc đã tiến hành thu thập chứng cứ nhưng không thành công;
  • HĐTT đề nghị Toà án cấp tỉnh nơi người làm chứng cư trú hỗ trợ triệu tập người làm chứng do đã triệu tập hợp lệ người làm chứng nhưng người làm chứng không tham gia phiên họp giải quyết tranh chấp . Lưu ý, đề nghị gửi đến Toà án phải kèm theo chứng cứ chứng minh việc HĐTT đã triệu tập hợp lệ mà người làm chứng không đến phiên họp nhưng không có lý do chính đáng và việc vắng mặt của họ gây cản trở cho việc giải quyết tranh chấp.

Khi có yêu cầu Toà án hỗ trợ thu thập chứng cứ, triệu tập người làm chứng như trên, bên yêu cầu phải nộp lệ phí thu thập chứng cứ, triệu tập người làm chứng và chi phí thu thập, chi phí cho người làm chứng theo quy định .

Tóm lại, vấn đề chứng minh và cung cấp chứng cứ trong tố trụng Trọng tài tại Việt Nam vẫn còn chưa rõ ràng và có một số khác biệt so với tố tụng tại Toà án Việt Nam, cũng như tố tụng tại Trọng tài quốc tế. Do đó, các bên tranh chấp, bao gồm cả trong nước và nước ngoài, cần lưu ý về các vấn đề nêu trên để thực hiện việc thu thập, cung cấp chứng cứ và giải quyết tranh chấp tại Trọng tài thương mại Việt Nam một cách hiệu quả.

Nếu bạn có bất kỳ câu hỏi hoặc góp ý về nội dung trên, vui lòng liên hệ với chúng tôi theo địa chỉ consult@blawyersvn.com. BLawyers Vietnam rất muốn nghe từ bạn!

Ngày: 27/12/2022

Người viết: Trinh Nguyễn

Maybe you want to read:

Có bắt buộc phải thương lượng, hoà giải theo thoả thuận trước khi khởi kiện tranh chấp ra Trọng tài Thương mại tại Việt Nam?

04 lưu ý để thi hành phán quyết trọng tài ban hành ở nước ngoài tại Việt Nam

04 lưu ý về thời hiệu yêu cầu thi hành quyết định của Tòa án và Trọng tài nước ngoài tại Việt Nam

blawyersvn-cta-image

Yêu cầu tư vấn luật miễn phí

Vui lòng gọi cho chúng tôi hoặc điền vào mẫu đơn bên dưới. Chúng tôi sẽ phản hồi bạn trong vòng 24 giờ đồng hồ.

  • This field is for validation purposes and should be left unchanged.