Tóm tắt nhanh: Khi giải quyết tranh chấp tại Việt Nam, cá nhân và tổ chức có thể yêu cầu cơ quan, đơn vị cung cấp một số thông tin mà mình không thể tự thu thập. Tuy nhiên, khả năng tiếp cận thông tin phụ thuộc vào loại thông tin, chủ thể yêu cầu, sự đồng ý của người có liên quan và các quy định về bảo vệ dữ liệu cá nhân. Bài viết này trình bày các nhóm thông tin có thể yêu cầu, thủ tục thực hiện, thời hạn xử lý và những rủi ro cần lưu ý khi sử dụng thông tin làm chứng cứ.
Vào ngày 23/4/2026, Quốc hội đã thông qua Luật Tiếp cận thông tin 2026 (“Luật TCTT 2026”), có hiệu lực kể từ ngày 01/9/2026, thay thế cho Luật Tiếp cận thông tin 2016. Trước đó, vào ngày 01/01/2026, Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân 2025 (“Luật BVDLCN 2025”) cũng đã chính thức có hiệu lực. Việc hai văn bản luật này lần lượt được ban hành trong cùng một giai đoạn ngắn cho thấy Nhà nước đang định hình lại ranh giới giữa minh bạch thông tin và bảo vệ dữ liệu cá nhân.
Trong quá trình giải quyết tranh chấp tại Tòa án hay Trọng tài, đương sự có thể cần sử dụng những thông tin mà mình không thể tự thu thập được, đặc biệt là thông tin do cơ quan, đơn vị nắm giữ hoặc thông tin có liên quan đến dữ liệu cá nhân và bí mật kinh doanh. Bài viết này phân tích về cách tiếp cận, sử dụng thông tin, đặc biệt là những thông tin nằm ngoài khả năng tự thu thập, khi giải quyết tranh chấp tại Việt Nam, theo quy định của Luật TCTT 2026 và Luật BVDLCN 2025.
1. Công dân được tiếp cận thông tin nào?
Công dân được tiếp cận thông tin của cơ quan, đơn vị, trừ các thông tin không được tiếp cận và thông tin được tiếp cận có điều kiện. Luật TCTT 2026 quy định rõ hai nhóm thông tin này tại Điều 15 và Điều 16 như sau:
- Thứ nhất, thông tin công dân không được tiếp cận sẽ bao gồm những thông tin thuộc bí mật Nhà nước, các thông tin này nếu được giải mật thì công dân sẽ được tiếp nhận. Cùng nhóm này còn có thông tin mà nếu công khai sẽ gây nguy hại đến lợi ích Nhà nước, quốc phòng, an ninh…cũng như bí mật công tác của cơ quan, đơn vị, hay tài liệu nội bộ, biên bản họp nội bộ mà đơn vị soạn ra chỉ để phục vụ công việc của chính mình.
Đáng chú ý, nhóm thông tin không được tiếp cận còn có thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình, và bí mật kinh doanh. Tuy nhiên, sẽ có sự loại trừ như sẽ nói ở mục 2 bên dưới. - Thứ hai, thông tin công dân được tiếp cận có điều kiện là sự đồng ý theo Luật BVDLCN 2025 (“Nhóm Thông Tin Cần Sự Đồng Ý”). Nhóm này cũng bao gồm thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình, và bí mật kinh doanh.
Ngoài ra, còn có thông tin về tài liệu lưu trữ tại lưu trữ lịch sử cũng phải được thực hiện theo pháp luật về lưu trữ.
Người đứng đầu cơ quan nhà nước sẽ có quyền quyết định cung cấp các thông tin này trong trường hợp cần thiết vì lợi ích, sức khỏe công cộng mà không cần sự đồng ý trước.
Từ cơ sở trên, ngoài những thông tin đã được công khai theo Luật TCTT 2026, khi cần tiếp cận thông tin thuộc Nhóm Thông Tin Cần Sự Đồng Ý, hoặc thông tin khác, công dân phải thông qua thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin.
2. Yêu cầu cung cấp thông tin như thế nào?
2.1. Những thông tin nào được cung cấp theo yêu cầu?
Luật TCTT 2026 giới hạn việc này trong ba trường hợp sau:
- Trường hợp thứ nhất là thông tin đáng lẽ đã phải được công khai nhưng vì lý do cụ thể nêu tại Luật TCTT 2026 mà công dân vẫn chưa tiếp cận được, gồm: (1) Thông tin trong thời hạn công khai nhưng chưa được công khai; (2) Thông tin hết thời hạn công khai; (3) Thông tin đang được công khai nhưng vì lý do bất khả kháng, người yêu cầu không thể tiếp cận được.
- Trường hợp thứ hai là thông tin thuộc Nhóm Thông Tin Cần Sự Đồng Ý đã nói ở Mục 1 ở trên, với điều kiện đã đáp ứng đủ yêu cầu về sự đồng ý. Với dữ liệu cá nhân thì sự đồng ý đó cũng phải bảo đảm 04 nguyên tắc cũng như đáp ứng phương thức thể hiện sự đồng ý theo Luật BVDLCN 2025 và Nghị định 365/2025/NĐ-CP. Đây cũng chính là yếu tố mà các bên tham gia giải quyết tranh chấp cần lưu ý nhất khi muốn dùng dữ liệu cá nhân của bên thứ ba làm chứng cứ. Nếu chưa có sự đồng ý hợp lệ theo đúng nguyên tắc và phương thức nêu trên, việc tự ý thu thập, sử dụng dữ liệu này, dù với mục đích phục vụ tranh chấp, vẫn có thể khiến các bên chịu trách nhiệm pháp lý theo Luật BVDLCN 2025.
- Trường hợp thứ ba là thông tin liên quan đến đời sống, sinh hoạt, sản xuất, kinh doanh của chính người yêu cầu, miễn là không thuộc diện phải công khai và không rơi vào nhóm trường hợp thứ hai vừa nêu ở trên.
Cuối cùng, bên cạnh 03 nội dung trên và trong một số trường hợp đặc thù, khi được yêu cầu cung cấp, cơ quan, đơn vị có thể cung cấp thông tin khác do mình tạo ra hoặc nắm giữ để bảo vệ lợi ích công cộng, sức khỏe của cộng đồng.
2.2. Trình tự yêu cầu cung cấp thông tin được quy định như thế nào?
Theo Điều 24 Luật TCTT 2026, công dân có thể tự mình hoặc ủy quyền cho người đại diện gửi yêu cầu theo phương thức trực tiếp, trực tuyến, hay qua đường bưu điện đều được, và có thể dùng điện thoại hay thiết bị khác để sao, chụp, tải thông tin về.
Về chi phí, Điều 25 Luật TCTT 2026 quy định công dân không phải trả phí hay lệ phí, trừ khi pháp luật liên quan có quy định khác. Tuy nhiên công dân vẫn phải tự thanh toán chi phí thực tế phát sinh khi in, sao, chụp, gửi thông tin.
Về thời hạn, cơ quan, đơn vị phải cung cấp thông tin chậm nhất trong thời hạn 12-24 ngày kể từ khi nhận được yêu cầu hợp lệ. Đây là mốc thời gian mà đương sự nên lưu ý khi có kế hoạch giải quyết tranh chấp.
Một điểm cần lưu ý nữa, đối với những thông tin thuộc Nhóm Thông Tin Cần Sự Đồng Ý, người yêu cầu phải nộp kèm văn bản đồng ý tương ứng. Với dữ liệu cá nhân, văn bản đồng ý còn phải thể hiện theo nguyên tắc và phương thức đồng ý theo quy định của Luật BVDLCN 2025, như cách có thể kiểm chứng được, tức phải xác định được ai đã đồng ý, đồng ý vào thời điểm nào và đồng ý cho nội dung gì, chứ không thể chỉ là một sự chấp thuận chung chung.
BLawyers Vietnam có thể hỗ trợ khách hàng thu thập và sử dụng thông tin làm chứng cứ như thế nào?
Trong quá trình đại diện khách hàng giải quyết tranh chấp, phạm vi hỗ trợ của BLawyers Vietnam có thể bao gồm:
- Tư vấn việc thu thập chứng cứ cho phù hợp với Luật TCTT 2026 và Luật BVDLCN 2025 trước khi tiến hành công việc nhằm giảm thiểu rủi ro;
- Rà soát, phân loại các nhóm chứng cứ phù hợp để giải quyết tranh chấp và chuẩn bị chứng cứ theo quy định pháp luật Việt Nam để nộp cho cơ quan giải quyết tranh chấp;
- Soạn thảo các văn bản, tài liệu trong trường hợp cần soạn thảo văn bản đồng ý trước khi thu thập Nhóm Thông Tin Cần Sự Đồng Ý; và
- Hỗ trợ làm việc với Cơ quan Nhà nước có liên quan nhằm thu thập chứng cứ theo quy định pháp luật.
Nội dung nêu trên không phải là ý kiến tư vấn chính thức từ BLawyers Vietnam. Nếu bạn có bất kỳ câu hỏi hoặc góp ý về nội dung trên, vui lòng liên hệ với chúng tôi qua địa chỉ info@blawyersvn.com. Chúng tôi rất vui khi nghe từ bạn.
Ngày: 15/10/2026
Người viết: Thành Huỳnh & Trang Lê

