Trong bối cảnh các tranh chấp lao động cá nhân ngày càng gia tăng cả về số lượng lẫn tính chất phức tạp, việc thu thập, đánh giá và sử dụng chứng cứ trong quá trình tố tụng là một yếu tố then chốt để giải quyết vụ án. Câu hỏi đặt ra là cơ quan giải quyết tranh chấp như Tòa án sẽ chấp nhận và xem xét chứng cứ và việc chứng minh của một bên tranh chấp (là người sử dụng lao động hoặc người lao động) như thế nào? Tuy nhiên, trên thực tế, không ít người lao động và cả người sử dụng lao động còn mơ hồ trong việc trả lời câu hỏi trên.
Trong bài viết dưới đây, BLawyers Vietnam sẽ trình bày sơ lược 02 lưu ý về chứng cứ và nghĩa vụ chứng minh trong một vụ án tranh chấp lao động cá nhân.
1. Điều kiện về chứng cứ trong vụ án tranh chấp lao động
Chứng cứ trong vụ án tranh chấp lao động là những gì có thật được đương sự và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác giao nộp, xuất trình cho Tòa án trong quá trình tố tụng hoặc do Tòa án thu thập được theo trình tự, thủ tục do Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 quy định và được Tòa án sử dụng làm căn cứ để xác định các tình tiết khách quan của vụ án cũng như xác định yêu cầu hay sự phản đối của đương sự là có căn cứ và hợp pháp.
Chứng cứ được xem là hợp pháp thu thập từ các nguồn sau đây với từng điều kiện cụ thể:
- Tài liệu đọc được phải là bản chính hoặc bản sao có công chứng, chứng thực hợp pháp hoặc do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cung cấp, xác nhận;
- Tài liệu nghe được, nhìn được được xuất trình kèm theo văn bản trình bày của người có tài liệu đó về xuất xứ của tài liệu nếu họ tự thu âm, thu hình hoặc văn bản có xác nhận của người đã cung cấp cho người xuất trình về xuất xứ của tài liệu đó hoặc văn bản về sự việc liên quan tới việc thu âm, thu hình đó;
- Thông điệp dữ liệu điện tử được thể hiện dưới hình thức trao đổi dữ liệu điện tử, chứng từ điện tử, thư điện tử, điện tín, điện báo, fax và các hình thức tương tự khác được xác định giá trị căn cứ vào độ tin cậy của cách thức khởi tạo, gửi, nhận hoặc lưu trữ thông điệp dữ liệu; cách thức bảo đảm và duy trì tính toàn vẹn của thông điệp dữ liệu; cách thức xác định người khởi tạo, gửi, nhận thông điệp dữ liệu và các yếu tố phù hợp khác;
- Vật chứng là hiện vật gốc liên quan đến vụ việc;
- Lời khai của đương sự, lời khai của người làm chứng được ghi bằng văn bản, băng ghi âm, đĩa ghi âm, băng ghi hình, đĩa ghi hình, thiết bị khác chứa âm thanh, hình ảnh theo quy định tại mục (ii) hoặc khai bằng lời tại phiên tòa;
- Kết luận giám định nếu việc giám định đó được tiến hành theo đúng thủ tục do pháp luật quy định;
- Biên bản ghi kết quả thẩm định tại chỗ nếu việc thẩm định được tiến hành theo đúng thủ tục do pháp luật quy định;
- Kết quả định giá tài sản, thẩm định giá tài sản nếu việc định giá, thẩm định giá được tiến hành theo đúng thủ tục do pháp luật quy định;
- Văn bản ghi nhận sự kiện, hành vi pháp lý do người có chức năng lập nếu việc lập văn bản ghi nhận sự kiện, hành vi pháp lý được tiến hành theo đúng thủ tục do pháp luật quy định;
- Văn bản công chứng, chứng thực nếu việc công chứng, chứng thực được thực hiện theo đúng thủ tục do pháp luật quy định;
- Các nguồn khác mà pháp luật có quy định theo điều kiện, thủ tục mà pháp luật quy định.
Ví dụ: Trong một vụ án tranh chấp lao động về tiền lương, khi người lao động muốn chứng minh việc người sử dụng lao động giảm trừ lương của mình không đúng luật và các tài liệu lao động tại doanh nghiệp, việc trình bày chứng cứ là các đoạn chat Zalo ghi nhận trao đổi giữa người sử dụng lao động và người lao động cần lưu ý những vấn đề sau:
- Tin nhắn Zalo là dữ liệu điện tử nhưng đó có phải là một trong những nguồn chứng cứ hợp pháp không?;
- Tin nhắn Zalo phải có xác thực được là từ người lao động và đại diện hợp pháp của người sử dụng lao động không?
- Tin nhắn đó bị chỉnh sửa, xóa bớt hoặc cắt ghép không?;
- Nội dung trao đổi có liên quan trực tiếp đến vụ án tranh chấp lao động không?; và
- Sau khi thu thập tin nhắn Zalo, bên nguyên đơn đã tiến hành lập vi bằng tại các văn phòng Thừa phát lại ghi nhận sự kiện trao đổi thông tin để làm bằng chứng hợp pháp trước Tòa án chưa?
2. Nghĩa vụ chứng minh và cung cấp chứng cứ trong quan hệ tranh chấp lao động
Về nguyên tắc, đương sự có yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu đó là có căn cứ và hợp pháp.
Tuy nhiên, trong một vụ án tranh chấp lao động do người lao động khởi kiện, nghĩa vụ cung cấp, giao nộp tài liệu, chứng cứ và chứng minh có thể thuộc về người sử dụng lao động trong các trường hợp sau:
- Người sử dụng lao động đã thực hiện đúng nghĩa vụ về bảo đảm việc làm, điều kiện làm việc và các chế độ, quyền lợi người lao động được hưởng theo quy định của pháp luật hoặc theo thỏa thuận;
- Người sử dụng lao động bị người lao động khởi kiện trong trường hợp người sử dụng lao động không có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động hoặc xử lý kỷ luật lao động đối với người lao động theo quy định của pháp luật về lao động;
- Người lao động không cung cấp, giao nộp được cho Tòa án tài liệu, chứng cứ vì lý do tài liệu, chứng cứ đó đang do người sử dụng lao động quản lý, lưu giữ.
Nội dung nêu trên không phải là ý kiến tư vấn chính thức từ BLawyers Vietnam. Nếu bạn có bất kỳ câu hỏi hoặc góp ý về nội dung trên, vui lòng liên hệ với chúng tôi qua địa chỉ info@blawyersvn.com. Chúng tôi rất vui khi nghe từ bạn
Ngày: 27/5/2025
Người viết: Tuyền Dương

