Nếu doanh nghiệp Việt Nam muốn xuất khẩu hàng hóa sang Đức hay tham gia vào chuỗi cung ứng với doanh nghiệp đến từ Hà Lan, thì một trong những điều kiện pháp lý bắt buộc để tiếp cận thị trường Liên minh châu Âu (EU) – vốn được xem là một trong những thị trường lớn và khắt khe nhất thế giới – là phải tuân thủ các quy định về môi trường theo Chỉ thị Thẩm định Tính bền vững của Doanh nghiệp (“Chỉ Thị”) do EU ban hành.
Trong bài viết này, BLawyers Vietnam sẽ phân tích và so sánh các nghĩa vụ về môi trường được quy định trong Chỉ Thị với hệ thống pháp luật hiện hành của Việt Nam, qua đó giúp doanh nghiệp Việt có cái nhìn tổng thể về mức độ tương thích pháp lý và nhận diện những điểm cần điều chỉnh nhằm không bị “bỏ lại” trong tiến trình hội nhập, hợp tác và tham gia vào chuỗi cung ứng của thị trường EU.
1. Các nội dung về môi trường theo Chỉ Thị
Tại Phần II – Phụ lục của Chỉ Thị, các vấn đề về môi trường được trình bày bao gồm:
- Nghĩa vụ tránh hoặc giảm thiểu tác động tiêu cực đến đa dạng sinh học, được giải thích theo Điều 10, điểm (b) của Công ước về Đa dạng sinh học năm 1992 và luật áp dụng trong khu vực liên quan, bao gồm các nghĩa vụ của Nghị định thư Cartagena về phát triển, xử lý, vận chuyển, sử dụng, chuyển nhượng và thả rông các sinh vật biến đổi gen và của Nghị định thư Nagoya về tiếp cận nguồn gen và chia sẻ công bằng, hợp lý lợi ích phát sinh từ việc sử dụng nguồn gen trong khuôn khổ Công ước về Đa dạng sinh học ngày 12/10/2014;
- Việc cấm nhập khẩu, xuất khẩu, tái xuất hoặc đưa vào từ biển bất kỳ mẫu vật nào được bao gồm trong Phụ lục I đến III của Công ước về thương mại quốc tế các loài động, thực vật hoang dã nguy cấp (CITES) ngày 3/3/1973 mà không có giấy phép, được diễn giải theo các Điều III, IV và V của Công ước;
- Việc cấm sản xuất, nhập khẩu và xuất khẩu các sản phẩm có chứa thủy ngân được liệt kê trong Phụ lục A Phần I của Công ước Minamata về Thủy ngân ngày 10/10/2013 (Công ước Minamata), được giải thích theo Điều 4(1) của Công ước;
- Việc cấm sử dụng thủy ngân hoặc các hợp chất thủy ngân trong các quy trình sản xuất được liệt kê trong Phụ lục B Phần I của Công ước Minamata sau ngày loại bỏ quy định trong Công ước cho từng quy trình, được giải thích theo Điều 5(2) của Công ước;
- Việc cấm xử lý chất thải thủy ngân trái phép, được giải thích theo Điều 11(3) của Công ước Minamata và Điều 13 của Quy định (EU) 2017/852 của Nghị viện Châu Âu và Hội đồng;
- Việc cấm sản xuất và sử dụng các hóa chất được liệt kê trong Phụ lục A của Công ước Stockholm ngày 22/5/2001 về các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy (Công ước POPs), được giải thích theo Điều 3(1), điểm (a), điểm (i) của Công ước và Quy định (EU) 2019/1021 của Nghị viện Châu Âu và Hội đồng;
- Việc cấm xử lý, thu gom, lưu trữ và thải bỏ chất thải trái phép, được giải thích theo Điều 6(1), điểm (d), điểm (i) và (ii) của Công ước POPs và Điều 7 của Quy định (EU) 2019/1021;
- Việc cấm nhập khẩu hoặc xuất khẩu một hóa chất được liệt kê trong Phụ lục III của Công ước Rotterdam về quy trình thông báo trước khi nhập khẩu đối với một số hóa chất và thuốc bảo vệ thực vật nguy hại trong thương mại quốc tế (UNEP/FAO) ngày 10/9/1998, được giải thích theo Điều 10(1), Điều 11(1), điểm (b) và Điều 11(2) của Công ước và chỉ dẫn của Bên nhập khẩu hoặc xuất khẩu theo Công ước theo quy trình thông báo trước khi nhập khẩu (PIC);
- Việc cấm sản xuất, tiêu thụ, nhập khẩu và xuất khẩu trái phép các chất bị kiểm soát trong Phụ lục A, B, C và E của Nghị định thư Montreal về các chất làm suy giảm tầng ozone theo Công ước Vienna về bảo vệ tầng ozone, được giải thích phù hợp với Điều 4B của Nghị định thư Montreal và các quy định cấp phép theo luật áp dụng trong khu vực có thẩm quyền liên quan;
- Việc cấm xuất khẩu chất thải nguy hại hoặc chất thải khác, được giải thích theo Điều 1(1) và (2) của Công ước Basel về Kiểm soát Vận chuyển Chất thải Nguy hại qua Biên giới và việc Xử lý của ngày 22/3/1989 (Công ước Basel) và Quy định (EC) số 1013/2006 của Nghị viện Châu Âu và Hội đồng:
- đến một bên tham gia Công ước đã cấm nhập khẩu các chất thải nguy hại và các chất thải khác như vậy, được giải thích theo Điều 4(1), điểm (b) của Công ước Basel;
- đến một quốc gia nhập khẩu không đồng ý bằng văn bản cho việc nhập khẩu cụ thể, trong trường hợp quốc gia nhập khẩu đó không cấm nhập khẩu các chất thải nguy hại như vậy, được giải thích theo Điều 4(1), điểm (c) của Công ước Basel;
- đến một quốc gia không phải là bên tham gia Công ước Basel, được giải thích theo Điều 4(5) của Công ước Basel;
- đến một quốc gia nhập khẩu nếu các chất thải nguy hại hoặc các chất thải khác không được quản lý theo cách thân thiện với môi trường tại quốc gia đó hoặc nơi khác, được giải thích theo Điều 4(8) câu đầu tiên của Công ước Basel.
- Việc cấm xuất khẩu chất thải nguy hại từ các quốc gia được liệt kê trong Phụ lục VII của Công ước Basel sang các quốc gia không được liệt kê trong Phụ lục VII đối với các hoạt động được liệt kê trong Phụ lục IV của Công ước Basel, được giải thích theo Điều 4A của Công ước Basel và Điều 34 và 36 của Quy định (EC) số 1013/2006;
- Việc cấm nhập khẩu chất thải nguy hại và các loại chất thải khác từ một nước không phải là bên tham gia và chưa phê chuẩn Công ước Basel, được giải thích theo Điều 4(5) của Công ước Basel;
- Nghĩa vụ tránh hoặc giảm thiểu tác động tiêu cực đến các tài sản được xác định là di sản thiên nhiên như được định nghĩa trong Điều 2 của Công ước Bảo vệ Di sản Văn hóa và Tự nhiên Thế giới ngày 16/11/1972 (Công ước Di sản Thế giới), được giải thích theo Điều 5, điểm (d) của Công ước Di sản Thế giới và luật pháp áp dụng trong khu vực có thẩm quyền liên quan;
- Nghĩa vụ tránh hoặc giảm thiểu tác động tiêu cực đến các vùng đất ngập nước như được định nghĩa trong Điều 1 của Công ước về các vùng đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế, đặc biệt là nơi cư trú của các loài chim nước ngày 2 tháng 2 năm 1971 (Công ước Ramsar), được giải thích theo Điều 4(1) của Công ước Ramsar và luật pháp hiện hành trong khu vực có thẩm quyền liên quan;
- Nghĩa vụ ngăn chặn ô nhiễm từ tàu, được diễn giải theo Công ước Quốc tế về Ngăn ngừa Ô nhiễm từ Tàu ngày 2/11/1973, được sửa đổi bởi Nghị định thư năm 1978 (MARPOL 73/78). Điều này bao gồm:
- việc cấm xả thải ra biển:
- dầu hoặc hỗn hợp có dầu như được định nghĩa trong Quy định 1 của Phụ lục I của MARPOL 73/78, được giải thích theo Quy định 9 đến 11 của Phụ lục I của MARPOL 73/78;
- các chất lỏng độc hại như được định nghĩa trong Quy định 1(6) của Phụ lục II của MARPOL 73/78, được giải thích theo Quy định 5 và 6 của Phụ lục II của MARPOL 73/78; và
- nước thải như được định nghĩa trong Quy định 1(3) của Phụ lục IV của MARPOL 73/78, được giải thích theo Quy định 8 và 9 của Phụ lục IV của MARPOL 73/78.
- việc cấm ô nhiễm bất hợp pháp do các chất độc hại được vận chuyển bằng đường biển dưới dạng đóng gói như được định nghĩa trong Quy định 1 của Phụ lục III của MARPOL 73/78, được giải thích theo các Quy định 1 đến 7 của Phụ lục III của MARPOL 73/78; và
- cấm ô nhiễm bất hợp pháp do rác thải từ tàu thuyền gây ra như được định nghĩa trong Quy định 1 của Phụ lục V của MARPOL 73/78, được giải thích theo Quy định 3 đến 6 của Phụ lục V của MARPOL 73/78.
- việc cấm xả thải ra biển:
- Nghĩa vụ ngăn chặn, giảm thiểu và kiểm soát ô nhiễm môi trường biển do xả thải, được giải thích theo Điều 210 của Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển ngày 10/12/1982 (UNCLOS) và luật áp dụng trong khu vực có thẩm quyền liên quan.
2. Tình hình nội luật hóa các quy định về môi trường của Chỉ Thị vào hệ thống pháp luật Việt Nam
Hiện nay, Việt Nam đã tham gia hầu hết các Công ước mà Chỉ Thị đề cập (ngoại trừ Công ước Rotterdam về quy trình thông báo trước khi nhập khẩu đối với một số hóa chất và thuốc bảo vệ thực vật nguy hại trong thương mại quốc tế).
Ngoài ra, bên cạnh việc tham gia và phê chuẩn các điều ước quốc tế, Việt Nam cũng đã nội luật hóa các Công ước vào các văn bản quy phạm pháp luật để áp dụng phù hợp với tình hình kinh tế, văn hóa và xã hội, bao gồm và không giới hạn các văn bản sau:
- Bộ luật hàng hải 2015;
- Luật hóa chất 2007;
- Luật đa dạng sinh học 2008;
- Luật biển Việt Nam năm 2012;
- Luật Bảo vệ môi trường năm 2020;
- Nghị định số 59/2017/NĐ-CP về quản lý tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích từ việc sử dụng nguồn gen;
- Nghị định số 109/2017/NĐ-CP quy định về bảo vệ và quản lý Di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới ở Việt Nam;
- Nghị định 113/2017/NĐ-CP hướng dẫn Luật hóa chất;
- Nghị định 69/2018/NĐ-CP hướng dẫn Luật Quản lý ngoại thương;
- Nghị định số 06/2019/NĐ-CP về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm và thực thi Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp;
- Nghị định số 66/2019/NĐ-CP về bảo tồn và sử dụng bền vững các vùng đất ngập nước;
- Nghị định 06/2022/NĐ-CP quy định về giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và bảo vệ tầng ô-dôn;
- Nghị định 08/2022/NĐ-CP hướng dẫn Luật Bảo vệ môi trường;
- Nghị định 45/2022/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường;
- Nghị định 82/2022/NĐ-CP sửa đổi Nghị định 113/2017/NĐ-CP hướng dẫn Luật Hóa chất;
- Thông tư 02/2022/TT-BTNMT hướng dẫn Luật Bảo vệ môi trường do Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành;
- Quyết định số 1598/QĐ-TTg về việc ban hành Kế hoạch quốc gia thực hiện Công ước Stockholm về các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2030; và
- Quyết định số 795/QĐ-TTg về phê duyệt Kế hoạch thực hiện các Phụ lục II, IV, V và VI của Công ước quốc tế về ngăn ngừa ô nhiễm do tàu gây ra.
Nội dung nêu trên không phải là ý kiến tư vấn chính thức từ BLawyers Vietnam. Nếu bạn có bất kỳ câu hỏi hoặc góp ý về nội dung trên, vui lòng liên hệ với chúng tôi qua địa chỉ info@blawyersvn.com. Chúng tôi rất vui khi nghe từ bạn.
Ngày: 17/7/2025
Người viết: Thư Hà và Tuyền Dương

