Liên quan đến Chỉ thị thẩm định tính bền vững của doanh nghiệp của Hội đồng Châu Âu (“Chỉ Thị”), BLawyers Vietnam tiếp tục làm rõ các yêu cầu pháp lý liên quan đến lao động, yếu tố có thể tác động trực tiếp đến khả năng tham gia và duy trì vị trí trong chuỗi cung ứng toàn cầu.
Trong bài viết này, BLawyers Vietnam trình bày các yêu cầu được đặt ra trong Chỉ Thị cũng như cung cấp một số khuyến nghị cụ thể cho các doanh nghiệp Việt Nam. Theo đó, các doanh nghiệp Việt Nam có quan hệ kinh doanh trực tiếp và/ hoặc gián tiếp với các doanh nghiệp đến từ các quốc gia thuộc Liên minh Châu Âu cần cân nhắc triển khai thực hiện tương ứng nhằm đáp ứng các tiêu chuẩn pháp lý gắt gao của thị trường này.
1. Các yêu cầu về lao động theo Chỉ Thị
Theo quy định tại Phụ lục I của Chỉ Thị, các yêu cầu về lao động được trình bày bao gồm:
- Quyền được hưởng các điều kiện làm việc công bằng và thuận lợi, bao gồm mức lương công bằng và mức lương đủ sống cho người lao động có việc làm và thu nhập đủ sống cho người tự kinh doanh và chủ sở hữu nhỏ mà họ kiếm được từ công việc và sản xuất của mình, một cuộc sống tươm tất, điều kiện làm việc an toàn và lành mạnh và giới hạn hợp lý về số giờ làm việc, được giải thích theo Điều 7 và Điều 11 của Công ước quốc tế các Quyền Kinh tế, Xã hội và Văn hóa (“Công Ước ICESCR”);
- Việc cấm hạn chế quyền tiếp cận nhà ở phù hợp của người lao động nếu người lao động được ở trong chỗ ở do công ty cung cấp, và cấm hạn chế quyền tiếp cận thực phẩm, quần áo, nước và vệ sinh đầy đủ tại nơi làm việc của người lao động, được giải thích theo Điều 11 của Công Ước ICESCR;
- Việc cấm tuyển dụng trẻ em dưới độ tuổi hoàn thành giáo dục bắt buộc và, trong mọi trường hợp, không dưới 15 tuổi, trừ khi luật pháp của nơi làm việc quy định khác phù hợp với Điều 2(4) của Công ước về Độ tuổi Tối thiểu của Tổ chức Lao động Quốc tế, 1973 (Số 138) (“Công Ước Số 138”), được giải thích phù hợp với Điều 4 đến 8 của Công Ước Số 138;
- Việc cấm các hình thức tồi tệ nhất của lao động trẻ em (những người dưới 18 tuổi), được giải thích theo Điều 3 của Công ước nghiêm cấm và hành động khẩn cấp xoá bỏ các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất, 1999 (Số 182). Điều này bao gồm:
- tất cả các hình thức nô lệ hoặc các hình thức tương tự như nô lệ, chẳng hạn như buôn bán trẻ em, nô lệ vì nợ nần và chế độ nông nô, cũng như lao động cưỡng bức hoặc bắt buộc, bao gồm cả việc tuyển dụng cưỡng bức hoặc bắt buộc trẻ em để sử dụng trong các cuộc xung đột vũ trang;
- việc sử dụng, mua chuộc hoặc đưa trẻ em vào hoạt động mại dâm, sản xuất nội dung khiêu dâm hoặc biểu diễn khiêu dâm;
- việc sử dụng, mua chuộc hoặc đưa trẻ em vào các hoạt động bất hợp pháp, đặc biệt là sản xuất hoặc buôn bán ma túy; và
- công việc mà do tính chất hoặc hoàn cảnh thực hiện công việc đó có thể gây tổn hại đến sức khoẻ, sự an toàn hoặc đạo đức trẻ em.
- Việc cấm lao động cưỡng bức hoặc lao động bắt buộc, có nghĩa là tất cả các công việc hoặc dịch vụ được yêu cầu từ bất kỳ người nào dưới sự đe dọa của bất kỳ hình phạt nào và người đó không tự nguyện tham gia, ví dụ do bị lệ thuộc vì nợ nần hoặc buôn bán con người, được giải thích theo Điều 2(1) của Công ước Lao động Cưỡng bức của Tổ chức Lao động Quốc tế, 1930 (Số 29) (“Công Ước Số 29”). Lao động cưỡng bức hoặc bắt buộc không có nghĩa là bất kỳ công việc hoặc dịch vụ nào tuân thủ Điều 2(2) của Công Ước Số 29 hoặc Điều 8(3), điểm (b) và (c) của Công ước quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị (“Công Ước ICCPR”).
- Việc cấm tất cả các hình thức nô lệ và buôn bán nô lệ, bao gồm các hình thức tương tự như nô lệ, nông nô hoặc các hình thức thống trị hoặc áp bức khác tại nơi làm việc, chẳng hạn như bóc lột và làm nhục về kinh tế hoặc tình dục cực đoan và nhục mạ, hoặc buôn bán người, được giải thích theo Điều 8 của Công Ước ICCPR;
- Quyền tự do lập hội, quyền hội họp, quyền tổ chức và thương lượng tập thể, được giải thích theo Điều 21 và 22 của Công Ước ICCPR, Điều 8 của Công Ước ICESCR, Công ước Tổ chức Lao động Quốc tế về Tự do lập hội và Bảo vệ Quyền tổ chức, 1948 (Số 87) (“Công Ước Số 87”), và Công ước Tổ chức Lao động Quốc tế về Quyền tổ chức và Thương lượng tập thể, 1949 (Số 98). Các quyền đó bao gồm những quyền sau đây:
- công nhân có quyền tự do thành lập hoặc gia nhập công đoàn;
- việc thành lập, gia nhập và trở thành thành viên của một công đoàn không được sử dụng làm lý do để phân biệt đối xử hoặc trả thù không chính đáng;
- các công đoàn có quyền hoạt động theo hiến pháp và quy định của họ, mà không bị can thiệp từ các cơ quan chức năng;
- quyền đình công và quyền thương lượng tập thể;
- Việc cấm đối xử bất bình đẳng trong việc làm, trừ khi điều này được chứng minh bằng các yêu cầu của việc làm, được giải thích theo Điều 2 và 3 của Công ước về Trả công Bình đẳng của Tổ chức Lao động Quốc tế năm 1951 (Số 100), Điều 1 và 2 Công ước về Phân biệt đối xử (Việc làm và Nghề nghiệp), 1958 (Số 111) và Điều 7 của Công Ước ICESCR. Điều này bao gồm, đặc biệt:
- việc trả thù lao không công bằng cho công việc có giá trị tương đương; và
- phân biệt đối xử dựa trên nguồn gốc quốc gia hoặc nguồn gốc xã hội, chủng tộc, màu da, giới tính, tôn giáo, quan điểm chính trị.
2. Đối chiếu với quy định pháp luật hiện hành của Việt Nam, các doanh nghiệp cần phải làm gì để đảm bảo tuân thủ những yêu cầu về lao động của Chỉ Thị?
2.1. Quy định pháp luật Việt Nam về lao động tương ứng với Chỉ Thị
Các doanh nghiệp cần lưu ý và tuân thủ các quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành của Việt Nam như sau:
- Quyền được hưởng bình đẳng về lương, mức lương; quyền được bảo vệ khỏi lao động cưỡng bức, đánh đập, nhục mạ của người lao động; quyền tự do lập hội, tổ chức và thương lượng tập thể; quy định về tuyển dụng lao động trẻ em theo Bộ luật Lao động 2019;
- Quyền được bảo hộ an toàn, vệ sinh lao động của người lao động tại nơi làm việc theo Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015; và
- Quyền được bảo vệ để không bị bóc lột sức lao động, xâm hại tình dục, bạo lực, mua bán, bảo vệ khỏi chất ma túy của trẻ em theo Luật Trẻ em 2016.
Tính đến thời điểm hiện tại, Việt Nam đã phê chuẩn 07 trên 08 Công Ước cơ bản của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) được đề cập trong Chỉ Thị, trong đó Công Ước Số 87 vẫn đang trong quá trình lấy ý kiến. Do đó, các doanh nghiệp Việt Nam cần đặc biệt lưu ý tuân thủ đầy đủ 07 Công Ước đã được phê chuẩn nhằm bảo đảm phù hợp với các quy định của Chỉ Thị.
2.2. Các hành động cụ thể liên quan đến các yêu cầu về lao động mà doanh nghiệp Việt Nam cần phải thực hiện
Có thể bao gồm:
- Rà soát, bổ sung và điều chỉnh các tài liệu nội bộ liên quan đến lao động của doanh nghiệp bao gồm nội quy lao động, quy chế dân chủ ở cơ sở tại nơi làm việc, thỏa ước lao động tập thể (nếu có)… nhằm đảm bảo phù hợp với các quy định của Chỉ Thị;
- Đánh giá các rủi ro lao động trong doanh nghiệp và thực hiện báo cáo định kỳ, công khai để người lao động được được tiếp cận thông tin, đồng thời xây dựng các biện pháp chủ động phòng ngừa và giảm thiểu nguy cơ vi phạm pháp luật lao động;
- Thiết lập hệ thống khiếu nại độc lập minh bạch, tạo điều kiện để người lao động kịp thời phản ánh các hành vi vi phạm, góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng và nâng cao sự tin tưởng vào môi trường làm việc của người lao động; và
- Đào tạo và nâng cao năng lực bộ phận nhân sự, quản lý và nhà cung cấp các tiêu chuẩn lao động quốc tế.
Nội dung nêu trên không phải là ý kiến tư vấn chính thức từ BLawyers Vietnam. Nếu bạn có bất kỳ câu hỏi hoặc góp ý về nội dung trên, vui lòng liên hệ với chúng tôi qua địa chỉ info@blawyersvn.com. Chúng tôi rất vui khi nghe từ bạn.
Ngày: 15/7/2025
Người viết: Thư Hà và Tuyền Dương

