Trong bối cảnh nền kinh tế biến động, nhiều vấn đề pháp lý có thể xảy ra đối với doanh nghiệp không loại trừ việc một doanh nghiệp có thể đối mặt với nguy cơ phá sản. Khi điều đó xảy ra, việc xử lý tài sản bảo đảm là một trong những vấn đề pháp lý cần phải lưu ý, đặc biệt nếu tài sản bảo đảm đó thuộc quyền sở hữu của bên thứ ba. Điều này đặt ra không chỉ là câu hỏi về quyền lợi của các tổ chức tín dụng mà còn về nghĩa vụ và trách nhiệm của bên thứ ba trong mối quan hệ pháp lý với doanh nghiệp mất khả năng thanh toán.
Trong phạm vi bài viết này, BLawyers Vietnam sẽ cung cấp 03 lưu ý trong quá trình xử lý tài sản bảo đảm của bên thứ ba khi doanh nghiệp thực hiện thủ tục phá sản.
1. Quyền xử lý tài sản bảo đảm
Theo quy định, tài sản đảm bảo được hiểu là một loại tài sản mà cá nhân, tổ chức dùng để đảm bảo thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đã giao kết như cầm cố, thế chấp, đặt cọc, ký cược, ký quỹ, bảo lưu quyền sở hữu, bảo lãnh, tín chấp và cầm giữ tài sản.
Trong quan hệ tín dụng, khi bên thứ ba sử dụng tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm cho nghĩa vụ cho một doanh nghiệp khác, tổ chức tín dụng có quyền xử lý tài sản bảo đảm đó khi:
- Đến hạn thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm mà bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ; hoặc
- Bên có nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm trước thời hạn do vi phạm nghĩa vụ theo thỏa thuận hoặc theo quy định của luật; hoặc
- Trường hợp khác do các bên thỏa thuận hoặc luật có quy định.
Tuy nhiên, khi đơn yêu cầu phá sản của doanh nghiệp được Tòa án nhân dân có thẩm quyền (“Tòa Án”) thụ lý, quyền xử lý tài sản bảo đảm của tổ chức tín dụng sẽ bị hạn chế nhằm đảm bảo tính công bằng giữa các chủ nợ và bảo vệ quyền lợi chung trong quá trình giải quyết phá sản.
2. Khi nào tổ chức tín dụng được quyền “thu hồi” tài sản bảo đảm của bên đảm bảo khi doanh nghiệp thực hiện thủ tục phá sản?
Theo Luật Phá sản 2014, phá sản là tình trạng của doanh nghiệp mất khả năng thanh toán và bị Tòa Án ra quyết định tuyên bố phá sản. Luật này cũng quy định trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày Tòa Án thụ lý vụ việc phá sản, việc thực hiện nghĩa vụ về tài sản của doanh nghiệp mất khả năng thanh toán được thực hiện theo nguyên tắc sau:
- Tòa án nhân dân, Trọng tài phải tạm đình chỉ việc giải quyết vụ việc dân sự, kinh doanh, thương mại, lao động có liên quan đến nghĩa vụ tài sản mà doanh nghiệp là một bên đương sự.
- Cơ quan, tổ chức có thẩm quyền tạm đình chỉ việc xử lý tài sản bảo đảm của doanh nghiệp đối với các chủ nợ có bảo đảm.
Như vậy, các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền phải ra quyết định tạm đình chỉ xử lý tài sản bảo đảm của bên đảm bảo đối với các chủ nợ có bảo đảm bao gồm các tổ chức tín dụng trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày Tòa Án thụ lý phá sản. Điều này cũng đã được Tòa án Nhân dân Tối cao hướng dẫn rõ tại Công văn số 199/TANDTC- PC đề ngày 18/12/2020 về việc thông báo kết quả giải đáp trực tuyến một số vướng mắc trong giải quyết phá sản.
Trường hợp duy nhất tổ chức tín dụng vẫn có quyền tiếp tục xử lý tài sản bảo đảm là khi nghĩa vụ phải thi hành án được xác định là khoản nợ xấu, thuộc phạm vi điều chỉnh của Nghị quyết số 42/2017/QH14 đề ngày 21/6/2017 của Quốc hội về thí điểm xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng. Trong trường hợp này, nếu tài sản bảo đảm là của bên thứ ba được bảo đảm đang bị tòa án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, thì tổ chức tín dụng vẫn có quyền thu giữ tài sản bảo đảm và xử lý tài sản đó theo quy định của pháp luật. Đồng thời, tổ chức tín dụng đó cũng có thể đề nghị Tòa Án giải quyết vấn đề này trong quá trình giải quyết vụ việc phá sản theo quy định hiện hành.
Có thể hiểu rằng tại giai đoạn doanh nghiệp tiến hành phá sản tại Tòa Án, các tổ chức tín dụng dường như không được phép “thu hồi” tài sản đảm bảo của bên thứ ba mà thay vào đó phải tuân thủ theo quy định của pháp luật phá sản và phải chờ đến khi Tòa Án ban hành quyết định mở hoặc không mở thủ tục phá sản để tiến hành các thủ tục tiếp theo.
3. Hậu quả pháp lý của việc xử lý tài sản từ việc Tòa Án quyết định mở hoặc không mở thủ tục phá sản
Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, Tòa Án phải ra một trong các quyết định sau:
- Quyết định mở thủ tục phá sản khi xác định doanh nghiệp mất khả năng thanh toán: Lúc này việc xử lý đối với tài sản bảo đảm theo nghị quyết của hội nghị chủ nợ theo Luật Phá sản 2014. Trường hợp phương án phục hồi hoạt động kinh doanh có sử dụng tài sản bảo đảm thì hội nghị chủ nợ phải quy định rõ thời gian sử dụng tài sản có bảo đảm, phương án xử lý tài sản bảo đảm và phải được chủ nợ có bảo đảm bằng tài sản đó đồng ý. Như vậy, rõ ràng quyền lợi của các tổ chức tín dụng bị ảnh hưởng khi theo quan điểm của Tòa Án thì tài sản bảo đảm cần được ưu tiên sử dụng để thực hiện thủ tục phục hồi kinh doanh của doanh nghiệp. Khi đó, việc xử lý của tổ chức tín dụng sẽ buộc phải dừng lại chờ đến khi triệu tập được hội nghị chủ nợ.
- Quyết định không mở thủ tục phá sản nếu xét thấy doanh nghiệp không thuộc trường hợp quy định tại Mục 3.(i) nêu trên. Lúc này, việc tạm đình chỉ việc xử lý tài sản bảo đảm của doanh nghiệp được tiếp tục giải quyết và các tổ chức tín dụng có quyền “thu hồi” tài sản đảm bảo của bên đảm bảo theo quy định của luật các tổ chức tín dụng và các văn bản hướng dẫn có liên quan.
Việc xử lý tài sản bảo đảm là tài sản của bên thứ ba trong quá trình doanh nghiệp thực hiện thủ tục phá sản là một vấn đề pháp lý phức tạp, đòi hỏi sự hiểu biết sâu rộng về các quy định liên quan trong Luật Phá sản và các văn bản pháp luật có liên quan. Các bên liên quan, bao gồm tổ chức tín dụng, doanh nghiệp và bên thứ ba, cần phối hợp chặt chẽ và tuân thủ nghiêm ngặt các thủ tục pháp lý để đảm bảo quyền lợi của mình trong quá trình giải quyết phá sản.
Nội dung nêu trên không phải là ý kiến tư vấn chính thức từ BLawyers Vietnam. Nếu bạn có bất kỳ câu hỏi hoặc góp ý về nội dung trên, vui lòng liên hệ với chúng tôi qua địa chỉ info@blawyersvn.com. Chúng tôi rất vui khi nghe từ bạn.
Ngày: 13/02/2025
Người viết: Thảo Lưu

