#7 Hôn nhân và gia đình: Nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng nhưng không đăng ký kết hôn

Xin chào các bạn thính giả của kênh The Lawyers Talks, rất vui được gặp lại mọi người trong số podcast mới hôm nay.

Chủ đề của podcast lần này là một chủ đề rất được quan tâm trong nhóm các vấn đề pháp lý về hôn nhân và gia đình, đó là vấn đề nam nữ sống chung như vợ chồng nhưng không đăng ký kết hôn. Với vấn đề này, xin mời mọi người cùng mình lắng nghe những chia sẻ đến từ Luật sư Trần Ngọc Thuyết, là Luật sư Thành viên cấp cao của BLawyers Việt Nam.

Khách mời

Chào Ms. Trinh và chào quý thính giả của chương trình Podcast của hãng luật BLawyers Vietnam!

Chủ biên

Thưa Luật sư Thuyết, trong thực tiễn cuộc sống hiện đại, mọi người thường đề cập vấn đề nam nữ sống chung như vợ chồng bằng cách gọi đơn giản là “sống thử”. Vậy, dưới góc nhìn pháp lý thì nam nữ sống chung như vợ chồng được định nghĩa như thế nào?

Khách mời

Theo quy định tại Luật Hôn nhân và gia đình hiện hành của Việt Nam, việc nam nữ chung sống như vợ chồng được định nghĩa như sau: “Chung sống như vợ chồng là việc nam, nữ tổ chức cuộc sống chung và coi nhau là vợ chồng”.

Theo quy định tại điểm d mục 2 Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT của TANDTC-VKSNDTC- BTP cùng ban hành để hướng dẫn Luật HNGĐ cũ năm 2000 thì nam, nữ được coi là chung sống như vợ chồng khi thuộc một trong các trường hợp sau:

• Có tổ chức lễ cưới khi về chung sống với nhau;

• Việc nam nữ về chung sống với nhau được gia đình (một trong hai bên) chấp nhận;

• Việc nam nữ về chung sống với nhau được người khác hay tổ chức chứng kiến;

• Họ thực sự chung sống với nhau, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau xây dựng gia đình.

Thời điểm nam và nữ bắt đầu chung sống với nhau như vợ chồng là ngày họ tổ chức lễ cưới hoặc ngày họ về chung sống với nhau được gia đình (một hoặc cả hai bên) chấp nhận hoặc ngày họ về chung sống với nhau được người khác hay tổ chức chứng kiến hoặc ngày họ thực sự bắt đầu chung sống với nhau, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau xây dựng gia đình.

Chủ biên

Vậy hiện nay pháp luật Việt Nam có quy định cấm nam nữ chung sống như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn không?

Khách mời

Pháp luật Việt Nam hiện hành không cấm việc nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn. Tuy nhiên, trong một số trường hợp hành vi này sẽ bị xem là vi phạm pháp luật về hôn nhân và gia đình. Có thể kể đến như sau:

• Thứ nhất, Người đang có vợ, có chồng mà chung sống như vợ, chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ thì sẽ bị coi là hành vi vi phạm nghiêm trọng chế độ một vợ một chồng;

• Thứ hai, chung sống như vợ chồng giữa những người có cùng dòng máu về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời; giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi cũng bị xem là vi phạm pháp luật; và

• Thứ ba, chung sống như vợ chồng giữa những người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng đây là hành vi vi phạm pháp luật, ảnh hưởng về chuẩn mực, đạo đức, ổn định của gia đình và các mối quan hệ xã hội.

Tuỳ từng trường hợp cụ thể mà các hành vi nêu trên sẽ bị xử phạt hành chính hoặc xử lý hình sự.

Chủ biên

Cảm ơn các chia sẻ của Luật sư Thuyết. Như vậy, theo em hiểu nếu nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không thuộc các trường hợp LUẬT SƯ Thuyết vừa nêu trên đây thì không bị coi là vi phạm pháp luật. Nếu như vậy, thì họ có được xem như vợ chồng chính thức như những cặp vợ chồng có đăng ký kết hôn không?

Khách mời

Liên quan đến việc công nhận quan hệ vợ chồng cho nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng nhưng không đăng ký kết hôn, các quy định pháp luật Việt Nam chia làm 03 trường hợp như sau:

+ Trường hợp nam, nữ chung sống như vợ chồng trước năm 1987: Cụ thể, nếu hai bên chung sống với nhau như vợ chồng trước ngày 03/01/1987, tuân thủ điều kiện kết hôn nhưng chưa đăng ký kết hôn thì luật pháp vẫn công nhận quan hệ hôn nhân của họ kể từ thời điểm bắt đầu chung sống, trường hợp này còn gọi là “hôn nhân thực tế” .

Trong trường hợp này, nam, nữ được xác định là chung sống với nhau như vợ chồng nếu họ thỏa mãn các điều kiện kết hôn của LHNGĐ 2000, đồng thời thuộc một trong các trường hợp sau:

(i) Có tổ chức lễ cưới khi về chung sống với nhau;

(ii) Việc họ về chung sống với nhau được gia đình (một bên hoặc cả hai bên) chấp nhận;

(iii) Việc họ về chung sống với nhau được người khác hay tổ chức chứng kiến; và

(iv) Họ thực sự có chung sống với nhau, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau xây dựng gia đình.

+ Trường hợp thứ hai đó là nam, nữ chung sống như vợ chồng từ thời điểm 03/01/1987 trở đi đến trước ngày 01/01/2001 . Trong giai đoạn này, nếu nam, nữ chung sống như vợ chồng đáp ứng điều kiện kết hôn theo LHNGĐ 2000 nhưng chưa đăng ký kết hôn và đang chung sống với nhau như vợ chồng thì có nghĩa vụ đăng ký kết hôn trong thời hạn 02 năm kể từ 01/01/2001 cho đến ngày 01/01/2003. Nếu họ thực hiện việc đăng ký kết hôn trong thời hạn 02 năm vừa nêu thì được công nhận là vợ chồng kể từ ngày bắt đầu chung sống. Nếu hết 02 năm đó mà nam, nữ không đăng ký kết hôn thì họ không được công nhận là có quan hệ hôn nhân vợ, chồng.

+ Trường hợp thứ ba là đối với trường hợp nam và nữ bắt đầu chung sống với nhau như vợ chồng từ ngày 01/01/2001 trở đi mà không đăng ký kết hôn, thì theo LHNGĐ 2000, họ không được pháp luật công nhận là vợ chồng.

Như vậy, kể từ ngày 01/01/2001, Việt Nam không công nhận hai bên nam nữ chung sống như vợ chồng là có quan hệ hôn nhân. Tình trạng này sẽ không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng cho các bên.

Tuy nhiên, cũng lưu ý rằng nếu hai bên nam nữ chung sống như vợ chồng và sau đó tiến hành đăng ký kết hôn thì họ được xem là đã xác lập quan hệ hôn nhân từ thời điểm đăng ký kết hôn.

Chủ biên

Thưa Luật sư Thuyết, như vậy cụ thể nam nữ chung sống như vợ chồng và hôn nhân của họ không được pháp luật công nhận thì quyền và nghĩa vụ giữa họ có gì khác đối với cặp vợ chồng hợp pháp?

Khách mời

Khác nhau nhiều chứ, pháp luật hôn nhân và gia đình có quy định về quyền và nghĩa vụ giữa vợ và chồng với nhau trong đó có quyền và nghĩa vụ về nhân thân, quyền và nghĩa vụ về tài sản, … được nhà nước thừa nhận và bảo hộ. Ví dụ: giữa vợ và chồng có tồn tại nghĩa vụ cấp dưỡng, đó là việc vợ, chồng có nghĩa vụ đóng góp tiền hoặc tài sản khác để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của người kia khi vợ, chồng không cùng chung sống mà gặp khó khăn, túng thiếu do không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình; ngoài ra, họ có quyền thừa kế tài sản của nhau theo di chúc hoặc theo pháp luật.

Còn đối với nam nữ chung sống như vợ chồng không đăng ký kết hôn, ở góc độ pháp lý họ không phải là vợ chồng của nhau nên không áp dụng quyền và nghĩa vụ giữa vợ chồng đối với họ, quan hệ của họ cũng sẽ không được pháp luật bảo hộ.

Chủ biên

Ngoài vấn đề về quan hệ hôn nhân giữa nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà chúng ta vừa bàn luận ở trên đây, Luật sư Thuyết vui lòng chia sẻ thêm một vấn đề liên quan đó là, nếu trong quá trình chung sống, hai bên có con chung thì có đi làm thủ tục khai sinh cho con được hay không và thực hiện như thế nào?

Khách mời

Theo quy định của pháp luật, con sinh ra không phụ thuộc vào tình trạng hôn nhân của cha mẹ, đều có các quyền và nghĩa vụ như những đứa trẻ khác, trong đó có quyền được khai sinh. Việc cha mẹ không đăng ký kết hôn không làm ảnh hưởng đến quyền được khai sinh của trẻ.

Nếu hai bên chưa có đăng ký kết hôn thì cán bộ Hộ tịch không thể ghi thông tin của người nam vào mục thông tin cha của đứa trẻ được, phần ghi về cha trong Sổ hộ tịch và giấy khai sinh của trẻ sẽ được để trống.

Tuy nhiên, nếu muốn ghi tên người nam là cha của đứa trẻ trên giấy khai sinh thì bên nam phải thực hiện thủ tục nhận con theo quy định của Luật hộ tịch. Khi đó, cơ quan có thẩm quyền sẽ kết hợp giải quyết việc nhận con và đăng ký khai sinh.

(CSPL: Điều 30 BLDS 2015 + Điều 15 Nghị định 123/2015/NĐ-CP)

Chủ biên

Thưa Luật su Thuyết, ngoài vấn đề khai sinh cho con như nói trên thì vấn đề quyền và nghĩa vụ của hai bên đối với con chung được thực hiện như thế nào?

Khách mời

Như tôi đã nói ở trên, con sinh ra không phụ thuộc vào tình trạng hôn nhân của cha mẹ, đều có các quyền và nghĩa vụ như những đứa trẻ khác. Theo đó, hai bên nam nữ chung sống như vợ chồng phải thực hiện quyền, nghĩa vụ đối với con chung theo các quy định về quyền, nghĩa vụ giữa cha mẹ và con, bao gồm nghĩa vụ và quyền chăm sóc, nuôi dưỡng, nghĩa vụ và quyền giáo dục con, đại diện cho con, …. Cũng giống như những quyền, nghĩa vụ mà các cặp vợ chồng hợp pháp thực hiện đối với con chung của họ.

Chủ biên

Một vấn đề cũng rất được quan tâm đó là tài sản chung giữa nam nữ sống chung nhưng không đăng ký kết hôn. Luật sư Thuyết có thể chia sẻ thêm về cách thức giải quyết chế độ quan hệ về tài sản của hai bên nam nữ sống chung như vợ chồng được không?

Khách mời

Nếu vợ chồng có hôn nhân hợp pháp, sở hữu chung của họ đối với tài sản là sở hữu chung hợp nhất có thể phân chia. Sở hữu chung hợp nhất là sở hữu chung mà trong đó, phần quyền sở hữu của mỗi chủ sở hữu chung không được xác định đối với tài sản chung. Vợ chồng có quyền, nghĩa vụ ngang nhau đối với tài sản thuộc sở hữu chung.

Đối với nam nữ sống chung không đăng ký kết hôn thì họ sẽ không được công nhận là vợ chồng hợp pháp. Do đó, tài sản do hai bên có được trong thời gian chung sống với nhau sẽ không được coi là tài sản chung của vợ chồng. Việc sở hữu chung tài sản giữa họ chỉ được xem là sở hữu của nhiều chủ thể đối với tài sản.

Theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình hiện hành, quan hệ tài sản giữa họ sẽ được giải quyết theo thoả thuận. Trường hợp không có thoả thuận thì giải quyết dựa trên các quy định về sở hữu chung giữa nhiều chủ thể được quy định tại BLDS. Tuy nhiên, pháp luật hôn nhân và gia đình cũng quy định rằng việc giải quyết quan hệ tài sản giữa nam nữ chung sống như vợ chồng thì phải bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của phụ nữ và con; công việc nội trợ và công việc khác có liên quan để duy trì đời sống chung được coi như lao động có thu nhập.

Chủ biên

Vậy trong trường hợp nam nữ mong muốn mua chung căn hộ, đất đai, nhà ở thì giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà được cấp như thế nào?

Khách mời

Trong trường hợp hai người nam, nữ mặc dù chưa đăng ký kết hôn nhưng vẫn hoàn toàn có quyền thỏa thuận để cùng nhau nhận chuyển nhượng, mua bán bất động sản và cùng đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất. Đây sẽ là được coi là tài sản thuộc sở hữu chung theo phần.

Về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, theo quy định tại khoản 2 Điều 98 Luật Đất đai năm 2013 thì Thửa đất có nhiều người chung quyền sử dụng đất, nhiều người sở hữu chung nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất thì Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất phải ghi đầy đủ tên của những người có chung quyền sử dụng đất, người sở hữu chung nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất và cấp cho mỗi người 01 giấy chứng nhận; trường hợp các chủ sử dụng, chủ sở hữu có yêu cầu thì cấp chung một Giấy chứng nhận và trao cho người đại diện.

Như vậy, nam nữ sống chung không đăng ký kết hôn vẫn có thể cùng đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Sổ đỏ phải ghi đầy đủ tên của cả hai và sẽ cấp cho mỗi người một Sổ đỏ. Nếu có thỏa thuận thì có thể cấp chung một Sổ đỏ và trao cho người đại diện.

Chủ biên

Một vấn đề cũng quan trọng đối với chủ đề này đó là thừa kế giữa nam nữ chung sống như vợ chồng. Luật sư Thuyết có thể cho biết liệu nam, nữ chung sống như vợ chồng thì có quyền hưởng di sản thừa kế của người kia không?

Khách mời

Theo pháp luật thừa kế của Việt Nam thì vợ, chồng sẽ thuộc hàng thừa kế thứ nhất của nhau, có quyền được hưởng di sản thừa kế theo pháp luật.

Tuy nhiên, đối với cặp nam nữ chung sống như vợ chồng, không đăng ký kết hôn nên họ không phải là vợ, chồng được thừa nhận bởi pháp luật, do đó họ không có quyền hưởng di sản của nhau theo pháp luật, trừ khi tên của một bên được bên kia chỉ định hưởng di sản tại di chúc.

Chủ biên

Cảm ơn Luật sư Thuyết. Vậy thì con của nam nữ chung sống với nhau không đăng ký kết hôn thì có được hưởng di sản của cha, mẹ mình không?

Khách mời

Theo quy định của pháp luật thừa kế, con đẻ của người chết là người thừa kế thuộc hàng thừa kế thứ nhất. Do đó, con được hưởng di sản của cha, mẹ mình bất kể con có được sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hay không, cũng như không phân biệt con riêng hay con trong thời kỳ hôn nhân.

Nếu chứng minh được một người là con của người để lại di sản, tức là có quan hệ huyết thống thì sẽ được hưởng di sản thừa kế theo pháp luật.

Chủ biên

Cảm ơn những chia sẻ rất hữu ích của Luật sư Thuyết. Như chúng ta có thể thấy trên thực tiễn, việc nam nữ sống chung với nhau như vợ chồng không đăng ký kết hôn cũng dẫn đến khá nhiều tranh chấp về mặt pháp lý mà việc giải quyết những vấn đề có có khi không dễ dàng. Trước hết là việc ly hôn. Vậy, hiện nay nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng, không đăng ký kết hôn thì có được nộp đơn ra Toà yêu cầu ly hôn và giải quyết các vấn đề liên quan như tài sản chung, con chung hay không?

Khách mời

Theo quy định pháp luật hiện thời, Toà án Việt Nam vẫn xem xét thụ lý để giải quyết yêu cầu ly hôn của hai bên nam nữ chung sống như vợ chồng không đăng ký kết hôn.

Theo đó, dù các bên thuận tình hay đơn phương ly hôn thì Toà án không quyết định về việc cho ly hôn hay không mà sẽ ban hành quyết định không công nhận vợ chồng giữa các bên. Vì bản chất hôn nhân của họ không được công nhận theo pháp luật.

Như tôi đã trình bày ở trên đây về việc giải quyết con chung, tài sản chung thì nếu nam, nữ có yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp về nuôi con chung, quan hệ tài sản thì áp dụng các quy định sau đây:

(i) Về nuôi con chung, Tòa án áp dụng quy định của LHNGĐ 2014 về quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con để giải quyết tranh chấp; và

(ii) Về quan hệ tài sản, Tòa án giải quyết theo thỏa thuận giữa các bên; trong trường hợp các bên không thỏa thuận được thì giải quyết theo quy định của Bộ luật dân sự và các quy định khác của pháp luật có liên quan.

Tuy nhiên, việc giải quyết quan hệ tài sản phải bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của phụ nữ và con; công việc nội trợ và công việc khác có liên quan để duy trì đời sống chung được coi như lao động có thu nhập.

Chủ biên

Cảm ơn Luật sư Thuyết đã cung cấp rất nhiều thông tin hữu ích, và cũng rất quan trọng về chủ đề ngày hôm nay. Em tin chắc các quý thính giả sẽ có những hiểu biết rõ hơn về các vấn đề pháp lý xoay quanh việc nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng nhưng không đăng ký kết hôn.

Khách mời

Cảm ơn Ms. Trinh đã cùng trao đổi với tôi về một chủ đề hiện nay thực tế và gần gũi trong đời sống xã hội như vậy. Hy vọng qua chương trình Podcast này, quý khán thính giả tìm được những thông tin hữu ích cho bạn và gia đình.

Chủ biên

Vâng, cảm ơn Luật sư Thuyết rất nhiều. Đến đây, Podcast của The Lawyers Talk xin được phép tạm dừng, cảm ơn quý thính giả đã quan tâm theo dõi, xin chào và hẹn gặp lại trong số Podcast kỳ sau.

Nếu có bất kỳ câu hỏi hay thắc mắc nào, các bạn để lại dòng bình luận bên dưới.

Hoặc để biết thêm thông tin về BLawyers Vietnam, xin mời các bạn xem Website của chúng tôi bên dưới màn hình Podcast của Lawyers Talk.

Xin chào và hẹn gặp lại.

Nội dung nêu trên không phải là ý kiến tư vấn chính thức từ BLawyers Vietnam. Nếu bạn có bất kỳ câu hỏi hay góp ý về nội dung trên vui lòng liên hệ với chúng tôi qua địa chỉ ⁠⁠⁠⁠consult@blawyersvn.com⁠⁠⁠⁠. Chúng tôi rất vui khi nghe từ bạn.

Ngày: 29/11/2023

Chủ biên

Thanhnguyen
Thanh Nguyễn

Xem thêm thông tin tại đường dẫn

#7 Hôn nhân và gia đình: Nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng nhưng không đăng ký kết hôn
Trinh Nguyễn

Xem thêm thông tin tại đường dẫn

Khách mời

#7 Hôn nhân và gia đình: Nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng nhưng không đăng ký kết hôn
Thuyết Trần

Xem thêm thông tin tại đường dẫn