#8 Trọng tài & Tố tụng tại tòa án: Vấn đề chứng minh, chứng cứ trong trong tranh tụng và trọng tài thương mại

Xin chào Quý khán thính giả của kênh The Lawyers Talks, rất vui được gặp lại mọi người trong số podcast mới hôm nay.

Chủ đề của podcast kỳ này sẽ xoay quanh các vấn đề pháp lý về chứng cứ, chứng minh trong tố tụng dân sự tại tòa án và trọng tài thương mại. Đây cũng là một đề tài hết sức quan trọng trong bất kỳ tranh chấp nào về lĩnh vực dân sự và thương mại.

Với chủ đề của kỳ podcast này, xin mời mọi người cùng mình lắng nghe những chia sẻ đến từ Luật sư Trần Ngọc Thuyết, là Luật sư Thành viên cấp cao của Công ty Luật TNHH BLawyers Vietnam

Khách mời

Chào Tính và chào quý thính giả của chương trình Podcast của hãng luật BLawyers Vietnam!

Chủ biên

Luật sư Thuyết có thể cho biết khái quát về tầm quan trọng của chứng minh, chứng cứ trong hoạt động tố tụng theo quy định của pháp luật Việt Nam được không?

Khách mời

Căn cứ các nguyên tắc cơ bản của pháp luật tố tụng Việt Nam, để chứng minh cho những yêu cầu khởi kiện là có căn cứ và hợp pháp làm căn cứ để Tòa án thụ lý vụ án, người khởi kiện phải nộp kèm theo đơn khởi kiện các tài liệu, chứng cứ cần thiết theo quy định

Tại Điều 6 Bộ luật dân sự 2015, quy định về việc cung cấp chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự như sau:

1. Đương sự có quyền và nghĩa vụ chủ động thu thập, giao nộp chứng cứ cho Tòa án và chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp.

Cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện, yêu cầu để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác có quyền và nghĩa vụ thu thập, cung cấp chứng cứ, chứng minh như đương sự.

2. Tòa án có trách nhiệm hỗ trợ đương sự trong việc thu thập chứng cứ và chỉ tiến hành thu thập, xác minh chứng cứ trong những trường hợp do Bộ luật tố tụng dân sự quy định.

Đương sự có quyền, nghĩa vụ ngang nhau khi tham gia tố tụng. Cung cấp tài liệu, chứng cứ; chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Đương sự có yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu đó là có căn cứ và hợp pháp.

Đương sự phản đối yêu cầu của người khác đối với mình phải thể hiện bằng văn bản và phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho sự phản đối đó.

Cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện để bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước hoặc yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho việc khởi kiện, yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp.

Tổ chức xã hội tham gia bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng không có nghĩa vụ chứng minh lỗi của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ theo quy định của Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.

Đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì Tòa án giải quyết vụ việc dân sự theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ việc.

Chủ biên

Thưa Luật sư, vậy pháp luật Việt Nam định nghĩa như thế nào về chứng cứ và chứng cứ thu thập như thế nào?

Khách mời

Theo quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự 2015 hiện hành của Việt Nam, định nghĩa về chứng cứ như sau: Chứng cứ trong vụ việc dân sự là những gì có thật được đương sự và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác giao nộp, xuất trình cho Tòa án trong quá trình tố tụng hoặc do Tòa án thu thập được theo trình tự, thủ tục do Bộ luật tố tụng dân sự quy định và được Tòa án sử dụng làm căn cứ để xác định các tình tiết khách quan của vụ án cũng như xác định yêu cầu hay sự phản đối của đương sự là có căn cứ và hợp pháp.

Theo quy định pháp luật, chứng cứ được thu thập từ các nguồn sau đây:

  1. Tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được, dữ liệu điện tử;
  2. Vật chứng;
  3. Lời khai của đương sự;
  4. Lời khai của người làm chứng;
  5. Kết luận giám định;
  6. Biên bản ghi kết quả thẩm định tại chỗ;
  7. Kết quả định giá tài sản, thẩm định giá tài sản;
  8. Văn bản ghi nhận sự kiện, hành vi pháp lý do người có chức năng lập;
  9. Văn bản công chứng, chứng thực; và
  10. Các nguồn khác mà pháp luật có quy định.
Chủ biên

Thưa luật sư, như vậy pháp luật có quy định các yêu cầu, và điều kiện như thế nào để công nhận chứng cứ là hợp pháp, đúng theo quy định pháp luật hay không?

Khách mời

Pháp luật về tố tụng không có quy định cụ thể về chứng cứ như thế nào là hợp pháp hay không hợp pháp. Tuy nhiên, căn cứ Điều 95 Bộ luật tố tụng dận sự 2015 quy định về việc xác định chứng cứ như sau:

  1. Tài liệu đọc được nội dung, tài liệu chỉ được coi là chứng cứ nếu là bản chính hoặc bản sao có công chứng, chứng thực hợp pháp hoặc do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cung cấp, xác nhận.
  2. Tài liệu nghe được, nhìn được thì chỉ được coi là chứng cứ nếu được xuất trình kèm theo văn bản trình bày của người có tài liệu đó về xuất xứ của tài liệu nếu họ tự thu âm, thu hình hoặc văn bản có xác nhận của người đã cung cấp cho người xuất trình về xuất xứ của tài liệu đó hoặc văn bản về sự việc liên quan tới việc thu âm, thu hình đó.
  3. Thông điệp dữ liệu điện tử được thể hiện dưới hình thức trao đổi dữ liệu điện tử, chứng từ điện tử, thư điện tử, điện tín, điện báo, fax và các hình thức tương tự khác theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử.
  4. Vật chứng là chứng cứ phải là hiện vật gốc liên quan đến vụ việc.
  5. Lời khai của đương sự, lời khai của người làm chứng được coi là chứng cứ nếu được ghi bằng văn bản, băng ghi âm, đĩa ghi âm, băng ghi hình, đĩa ghi hình, thiết bị khác chứa âm thanh, hình ảnh theo quy định tại Mục (ii) nêu trên hoặc khai bằng lời tại phiên tòa.
  6. Kết luận giám định được coi là chứng cứ nếu việc giám định đó được tiến hành theo đúng thủ tục do pháp luật quy định.
  7. Biên bản ghi kết quả thẩm định tại chỗ được coi là chứng cứ nếu việc thẩm định được tiến hành theo đúng thủ tục do pháp luật quy định.
  8. Kết quả định giá tài sản, kết quả thẩm định giá tài sản được coi là chứng cứ nếu việc định giá, thẩm định giá được tiến hành theo đúng thủ tục do pháp luật quy định.
  9. Văn bản ghi nhận sự kiện, hành vi pháp lý do người có chức năng lập tại chỗ được coi là chứng cứ nếu việc lập văn bản ghi nhận sự kiện, hành vi pháp lý được tiến hành theo đúng thủ tục do pháp luật quy định.
  10. Văn bản công chứng, chứng thực được coi là chứng cứ nếu việc công chứng, chứng thực được thực hiện theo đúng thủ tục do pháp luật quy định.
  11. Các nguồn khác mà pháp luật có quy định được xác định là chứng cứ theo điều kiện, thủ tục mà pháp luật quy định.

Như vừa trình bày trên đây, tuy pháp luật về tố tụng không có quy định cụ thể về chứng cứ như thế nào là hợp pháp hay không hợp pháp. Tuy nhiện, qua các quy định tại Điều 95 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 về việc xác định chứng cứ thì chúng ta có thể hiễu rằng, để chứng cứ được xem là hợp lệ và được cơ quan tiến hành tố tụng chấp nhận thì chứng cứ phải tuân thủ các quy định về xác định chứng cứ trên đây.

Chủ biên

Qua các chia sẻ của Luật sư Thuyết thì chúng ta có thể xác định được các nguồn thu thập chứng cứ cũng như các quy định pháp luật về xác định chứng cứ thế nào là hợp pháp. Thưa luật sư, vậy theo quy định pháp luật thì có trường hợp ngoại lệ nào mà chứng cứ được đương nhiên công nhận mà không cần chứng minh không?

Khách mời

Pháp luật về tố tụng có quy định một số trường hợp ngoại lệ tại Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; theo đó những tình tiết, sự kiện không phải chứng minh như sau:

  1. Những tình tiết, sự kiện rõ ràng mà mọi người đều biết và được Tòa án thừa nhận;
  2. Những tình tiết, sự kiện đã được xác định trong bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật hoặc quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã có hiệu lực pháp luật;
  3. Những tình tiết, sự kiện đã được ghi trong văn bản và được công chứng, chứng thực hợp pháp; trường hợp có dấu hiệu nghi ngờ tính khách quan của những tình tiết, sự kiện này hoặc tính khách quan của văn bản công chứng, chứng thực thì Thẩm phán có thể yêu cầu đương sự, cơ quan, tổ chức công chứng, chứng thực xuất trình bản gốc, bản chính.

1. Một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối những tình tiết, sự kiện, tài liệu, văn bản, kết luận của cơ quan chuyên môn mà bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh.

2. Đương sự có người đại diện tham gia tố tụng thì sự thừa nhận của người đại diện được coi là sự thừa nhận của đương sự nếu không vượt quá phạm vi đại diện.

Căn cứ các quy định pháp luật nêu trên, quý thính giả cũng nên lưu ý là sự thừa nhận của đương sự và sự thừa nhận của người đại diện theo ủy quyền của đương sự cũng được xem là những tình tiết, sự kiện không phải chứng minh. Vì vậy, khi đương sự ủy quyền cho cá nhân, tố chức thay mặt mình tham gia tố tụng thì phải quy định rõ phạm vi ủy quyến và nội dung ủy quyền.

Chủ biên

Vậy khi cá nhân, tổ chức nộp hồ sơ khởi kiện đến cơ quan giải quyết tranh chấp có thẩm quyền thì họ phải chuẩn bị các chứng cứ kèm theo như thế nào thưa Luật sư?

Khách mời

Như tôi đã chia sẻ thì chứng cứ được quy định thành nhiều loại. Tùy thuộc vào loại chứng cứ mà người khởi kiện chuẩn bị thì người khởi kiện cần đảm bảo tính hợp pháp của chứng cứ đó theo quy định của pháp luật.

Khi nộp đơn khởi kiện thì người khởi kiện phải kèm theo tài liệu, chứng cứ chứng minh quyền, lợi ích hợp pháp của người khởi kiện bị xâm phạm. Trường hợp vì lý do khách quan mà người khởi kiện không thể nộp đầy đủ tài liệu, chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện thì họ phải nộp tài liệu, chứng cứ hiện có để chứng minh quyền, lợi ích hợp pháp của người khởi kiện bị xâm phạm. Người khởi kiện bổ sung hoặc giao nộp bổ sung tài liệu, chứng cứ khác theo yêu cầu của Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án.

Chủ biên

Như vậy, em hiểu rằng người khởi kiện đang thực hiện quyền và nghĩa vụ chứng minh trong tố tụng đúng không? Và nghĩa vụ này được pháp luật quy định như thế nào?

Khách mời

Đúng vậy. Như tôi đã đề cập trên đây, Cụ thể, về nghĩa vụ chứng minh được quy định như sau:

  1. Đương sự có yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu đó là có căn cứ và hợp pháp.
  2. Đương sự phản đối yêu cầu của người khác đối với mình phải thể hiện bằng văn bản và phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho sự phản đối đó.
  3. Cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện để bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước hoặc yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho việc khởi kiện, yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp.
  4. Đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì Tòa án giải quyết vụ việc dân sự theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ việc.
Chủ biên

Vậy có những trường hợp nào mà đương sự sẽ không cần thực hiện nghĩa vụ chứng minh như đã nêu không?

Khách mời

Có. Có 04 trường hợp không phải thực hiện nghĩa vụ chứng minh, bao gồm:

  1. Thứ nhất, người tiêu dùng không có nghĩa vụ chứng minh lỗi của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa dịch vụ. Trong trường hợp này, nghĩa vụ chứng minh được đảo ngược cho bên bị kiện – bên bị kiện phải chứng minh mình không có lỗi gây ra thiệt hại;
  2. Thứ hai, đương sự là người lao động trong vụ án lao động mà không cung cấp, giao nộp được cho tòa án tài liệu, chứng cứ vì lý do tài liệu, chứng cứ đó đang do người sử dụng lao động quản lý, lưu giữ thì người sử dụng lao động có trách nhiệm cung cấp, giao nộp tài liệu, chứng cứ đó cho tòa án;
  3. Thứ ba, người lao động khởi kiện vụ án đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động thuộc trường hợp người sử dụng lao động không được thực hiện quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động hoặc trường hợp không được xử lý kỷ luật lao động đối với người lao động theo quy định của pháp luật về lao động thì nghĩa vụ chứng minh thuộc về người sử dụng lao động; và
  4. Thứ tư, tổ chức xã hội tham gia bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng không có nghĩa vụ chứng minh lỗi của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ.
Chủ biên

Nếu đương sự không thể nộp chứng cứ vì không thể tự mình thu thập thì họ có thể yêu cầu cơ quan nhà nước hỗ trợ thu thập chứng cứ được không?

Khách mời

Căn cứ pháp luật tố tụng dân sự quy định là Được.

Trường hợp đương sự đã áp dụng các biện pháp cần thiết để thu thập tài liệu, chứng cứ mà vẫn không thể tự mình thu thập được thì có thể đề nghị Tòa án ra quyết định yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân đang lưu giữ, quản lý tài liệu, chứng cứ cung cấp cho mình hoặc đề nghị Tòa án tiến hành thu thập tài liệu, chứng cứ nhằm bảo đảm cho việc giải quyết vụ việc dân sự đúng đắn.

Đương sự yêu cầu Tòa án thu thập tài liệu, chứng cứ phải làm đơn ghi rõ vấn đề cần chứng minh; tài liệu, chứng cứ cần thu thập; lý do mình không tự thu thập được; họ, tên, địa chỉ của cá nhân, tên, địa chỉ của cơ quan, tổ chức đang quản lý, lưu giữ tài liệu, chứng cứ cần thu thập.

Chủ biên

Các thông tin về vấn đề chứng cứ, chứng minh trong tố tụng tòa án thật sự rất bổ ích và cần thiết cho những ai đang quan tâm đến việc cung cấp chứng cứ, thực hiện nghĩa vụ chứng minh khi phát sinh tranh chấp trong lĩnh vực dân sự.

Bên cạnh đó, Trọng tài thương mại cũng là một trong các cơ quan giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực thương mại vô cùng phổ biến ở hiện tại. Vì vậy, xin Luật sư chia sẻ thêm về nghĩa vụ chứng minh và cung cấp chứng cứ trong tố tụng tại Trọng tài Thương mại?

Khách mời

Tương tự tố tụng tại Toà án Việt Nam, pháp luật Trọng tài thương mại của Việt Nam quy định rằng nguyên đơn và bị đơn đều có quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ cho Hội đồng Trọng tài để chứng minh cho các yêu cầu của mình và các sự việc có liên quan đến nội dung tranh chấp là có căn cứ.

Tuy vậy, các bên tranh chấp thường hiểu rằng Hội đồng Trọng tài có nghĩa vụ phải thu thập chứng cứ theo yêu cầu của họ để giải quyết vụ việc. Do đó, thực tiễn xét xử tại một số Trung tâm Trọng tài tại Việt Nam cho thấy các bên chưa chủ động thu thập chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của mình mà sẽ đề nghị Hội đồng Trọng tài thu thập.

Cần lưu ý rằng, thực tiễn đã xảy ra trường hợp: nguyên đơn khởi kiện tại Trọng tài nhưng không cung cấp được chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình kể từ khi thụ lý đơn khởi kiện cho đến ngày mở phiên họp cuối cùng. Tại phiên họp giải quyết tranh chấp cuối cùng, nguyên đơn có yêu cầu gia hạn thời gian cung cấp chứng cứ nhưng Hội đồng Trọng tài không đồng ý và đã ra phán quyết không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Sau đó, nguyên đơn yêu cầu Toà án huỷ phán quyết Trọng tài vì cho rằng việc Hội đồng Trọng tài không cho nguyên đơn thêm thời gian cung cấp tài liệu, chứng cứ là trái với nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam. Cuối cùng, Toà án có thẩm quyền nhận định rằng, phán quyết của Hội đồng Trọng tài là không vi phạm các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam và không chấp nhận yêu cầu huỷ phán quyết trọng tài của nguyên đơn (Tham khảo Quyết định số 12/2018/QĐ-KDTM ngày 09/11/2018 của TAND TP. Hà Nội).

Chủ biên

Vậy đương sự có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ theo yêu cầu của Hội đồng Trọng tài không?

Khách mời

Luật Trọng tài Thương mại 2010 hiện hành chưa quy định về quyền của Hội đồng Trọng tài được yêu cầu các bên tranh chấp cung cấp chứng cứ. Tuy nhiên, về vấn đề này, Quy tắc tố tụng Trọng tài của Trung Tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (“VIAC”) đã có quy định rằng Hội đồng Trọng tài có quyền yêu cầu các bên tranh chấp cung cấp chứng cứ, và các bên có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ theo đó.

Chủ biên

Vậy Hội đồng Trọng tài có thể thực hiện xác minh, thu thập chứng cứ như thế nào?

Khách mời

1. Thẩm quyền xác minh sự việc của Hội đồng trọng tài: Trong quá trình giải quyết tranh chấp, Hội đồng trọng tài có quyền gặp hoặc trao đổi với các bên với sự có mặt của bên kia bằng các hình thức thích hợp để làm sáng tỏ các vấn đề có liên quan đến vụ tranh chấp. Hội đồng trọng tài có thể tự mình hoặc theo yêu cầu của một hoặc các bên tìm hiểu sự việc từ người thứ ba, với sự có mặt của các bên hoặc sau khi đã thông báo cho các bên biết.

2. Thẩm quyền của Hội đồng trọng tài về thu thập chứng cứ: Trong trường hợp Hội đồng trọng tài, một hoặc các bên đã áp dụng các biện pháp cần thiết để thu thập chứng cứ mà vẫn không thể tự mình thu thập được thì có thể gửi văn bản đề nghị Toà án có thẩm quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được hoặc hiện vật khác liên quan đến vụ tranh chấp. Văn bản đề nghị phải nêu rõ nội dung vụ việc đang giải quyết tại Trọng tài, chứng cứ cần thu thập, lý do không thu thập được, tên, địa chỉ của cơ quan, tổ chức, cá nhân đang quản lý, lưu giữ chứng cứ cần thu thập đó.

Trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản, đơn yêu cầu thu thập chứng cứ, Chánh án Tòa án có thẩm quyền phân công một Thẩm phán xem xét, giải quyết yêu cầu thu thập chứng cứ. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày được phân công, Thẩm phán phải có văn bản yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân đang quản lý, lưu giữ cung cấp chứng cứ cho Tòa án và gửi văn bản đó cho Viện kiểm sát cùng cấp để thực hiện chức năng, nhiệm vụ theo quy định của pháp luật.

  • Cơ quan, tổ chức, cá nhân đang quản lý, lưu giữ chứng cứ có trách nhiệm cung cấp đầy đủ, kịp thời chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu.
  • Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được chứng cứ do cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp, Tòa án phải thông báo cho Hội đồng trọng tài, bên yêu cầu biết để tiến hành việc giao nhận chứng cứ.
  • Trường hợp quá thời hạn quy định mà cơ quan, tổ chức, cá nhân không cung cấp chứng cứ theo yêu cầu thì Tòa án phải thông báo ngay cho Hội đồng trọng tài, bên yêu cầu biết đồng thời có văn bản yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật.

Lưu ý, khi có yêu cầu Toà án hỗ trợ thu thập chứng cứ, triệu tập người làm chứng như trên, bên yêu cầu phải nộp lệ phí thu thập chứng cứ, triệu tập người làm chứng và chi phí thu thập, chi phí cho người làm chứng theo quy định.

3. Trên thực tế, việc áp dụng các quy định trên gặp một số khó khăn như sau

  • Do Hội đồng Trọng tài không phải là cơ quan tài phán nhà nước, không có quyền lực cưỡng chế nên người làm chứng thường không cung cấp chứng cứ, tài liệu hoặc không tham gia phiên họp giải quyết tranh chấp theo yêu cầu của Hội đồng Trọng tài;
  • Việc giám định, định giá tài sản là nghĩa vụ của Hội đồng Trọng tài hay thuộc thẩm quyền tự quyết của Hội đồng trọng tài chưa được hiểu rõ ràng; và
  • Việc tham vấn chuyên gia ít được sử dụng tại Trọng tài Việt Nam do thiếu các quy định pháp lý sâu hơn về vấn đề này.
Chủ biên

Cảm ơn Luật sư Thuyết về những thông tin đã chia sẻ. Đến đây, Podcast của Lawyers Talk xin được phép tạm dừng, cảm ơn quý thính giả đã quan tâm theo dõi, xin chào và hẹn gặp lại trong số Podcast kỳ sau.

Nếu có bất kỳ câu hỏi hay thắc mắc nào, các bạn để lại dòng bình luận bên dưới.

Hoặc để biết thêm thông tin về BLawyers Vietnam, xin mời các bạn xem Website của chúng tôi bên dưới màn hình Podcast của Lawyers Talk.

Xin chào và hẹn gặp lại.

Nội dung nêu trên không phải là ý kiến tư vấn chính thức từ BLawyers Vietnam. Nếu bạn có bất kỳ câu hỏi hay góp ý về nội dung trên vui lòng liên hệ với chúng tôi qua địa chỉ ⁠⁠⁠⁠consult@blawyersvn.com⁠⁠⁠⁠. Chúng tôi rất vui khi nghe từ bạn.

Ngày: 28/12/2023

Chủ biên

Thanhnguyen
Thanh Nguyễn

Xem thêm thông tin tại đường dẫn

#8 Trọng tài & Tố tụng tại tòa án: Vấn đề chứng minh, chứng cứ trong trong tranh tụng và trọng tài thương mại
Tính Nguyễn

Xem thêm thông tin tại đường dẫn

Khách mời

#8 Trọng tài & Tố tụng tại tòa án: Vấn đề chứng minh, chứng cứ trong trong tranh tụng và trọng tài thương mại
Thuyết Trần

Xem thêm thông tin tại đường dẫn