#9 Hôn nhân và Gia đình: Quyền và nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng con chung trong thời kỳ hôn nhân và sau khi ly hôn theo pháp luật Việt Nam

Xin chào các bạn thính giả của kênh The Lawyers Talk, rất vui được gặp lại mọi người trong số podcast hôm nay.

Chủ đề của tập podcast hôm nay xoay quanh một vấn đề vô cùng quan trọng trong đời sống hôn nhân – gia đình, đó là quyền và nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng con của cha mẹ dưới góc độ pháp luật Việt Nam.

Câu chuyện chăm sóc, nuôi dưỡng con cái là một vấn đề đặc biệt quan trọng trong đời sống hằng ngày, bởi vì việc chăm sóc, nuôi dưỡng con cái ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển nhân cách của một cá nhân và cũng chính là những thành viên của xã hội.

Vì vậy, pháp luật Việt Nam đã chú trọng trong việc xây dựng các quy định pháp luật nhằm bảo vệ quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng của con và đặt ra các nghĩa vụ thiết yếu của cha mẹ đối với con kể cả trong giai đoạn hôn nhân hay sau khi ly hôn.

Đối với chủ đề kỳ này, xin mời các quý thính giả cùng lắng nghe những chia sẻ đến từ Luật sư Trần Ngọc Thuyết – Luật sư Thành viên cấp cao của BLawyers Vietnam.

Khách mời

Xin chào Ms. Phương Uyên và xin chào các quý thính giả đã quay trở lại với chương trình Podcast của hãng luật BLawyers Vietnam!

Chủ biên

Chào Luật sư Thuyết, trước tiên Luật sư chia sẻ thêm để quý khán thính giả có cái nhìn tổng quan về pháp luật Việt Nam quy định về quyền và nghĩa vụ của cha, mẹ với con như thế nào?

Khách mời

Theo Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 quyền và nghĩa vụ của cha, mẹ với con như sau.

  • Thứ nhất, cha mẹ phải thương yêu con, tôn trọng ý kiến của con; chăm lo việc học tập, giáo dục để con phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ, đạo đức, trở thành người con hiếu thảo của gia đình, công dân có ích cho xã hội;
  • Thứ hai, cha mẹ có trách nhiệm trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.
  • Thứ ba, cha mẹ là người giám hộ hoặc người đại diện cho con chưa thành niên, con đã mất năng lực hành vi dân sự theo quy định của Bộ luật dân sự.
  • Thứ tư, cha mẹ không được phân biệt đối xử với con trên cơ sở giới hoặc theo tình trạng hôn nhân của cha mẹ; không được lạm dụng sức lao động của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động; không được xúi giục, ép buộc con làm việc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội.
Chủ biên

Vậy, pháp luật quy định như thế nào về quyền, nghĩa vụ của cha dượng, mẹ kế và con riêng của vợ hoặc của chồng? và con riêng có được quyền hưởng di sản thừa kế của cha dượng, mẹ kế không?

Khách mời

Theo Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, Thành viên gia đình bao gồm vợ, chồng; cha mẹ đẻ, cha mẹ nuôi, cha dượng, mẹ kế, cha mẹ vợ, cha mẹ chồng; con đẻ, con nuôi, con riêng của vợ hoặc chồng, con dâu, con rể; anh, chị, em cùng cha mẹ, anh, chị, em cùng cha khác mẹ, anh, chị, em cùng mẹ khác cha, anh rể, em rể, chị dâu, em dâu của người cùng cha mẹ hoặc cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha; ông bà nội, ông bà ngoại; cháu nội, cháu ngoại; cô, dì, chú, cậu, bác ruột và cháu ruột.

Theo đó, có thể hiểu rằng con riêng của vợ hoặc của chồng được xem là thành viên gia đình và không có sự phân biệt đối xử với các thành viên gia đình khác. Pháp luật hôn nhân và gia đình cũng không có giải thích cụ thể và định nghĩa về “con riêng”. Tuy nhiên, căn cứ vào các quy định về quyền và nghĩa vụ của cha dượng, mẹ kế và con riêng của vợ hoặc của chồng thì chúng ta có thể hiểu rằng “con riêng” là con của một bên vợ hoặc một bên chồng cùng sống chung với nhau.

Căn cứ Điều 79 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 quy định, cha dượng, mẹ kế có quyền và nghĩa vụ trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con riêng của bên kia cùng sống chung với mình theo quy định tại các điều 69, 71 và 72 của Luật Hôn nhân và Gia đình. Tức là nghĩa vụ và quyền của cha mẹ và con, nghĩa vụ và quyền cha mẹ chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con, mà không phân biệt đối xử là con riêng hay con chung của vợ chồng.

Điều 79 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 cũng quy định, con riêng có quyền và nghĩa vụ chăm sóc, phụng dưỡng cha dượng, mẹ kế cùng sống chung với mình theo quy định tại Điều 70 và Điều 71 của Luật Hôn nhân và Gia đình. Tức là quyền và nghĩa vụ của con với cha mẹ, nghĩa vụ và quyền chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ mà không phân biệt là cha mẹ ruột hay cha mẹ kế.

Ngoài ra, pháp luật về hôn nhân và gia đình Việt Nam cũng nghiêm cấm các hành vi kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời; giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng.

Chủ biên

Vậy theo quy định pháp luật thì con riêng có được quyền hưởng di sản thừa kế của cha dượng, mẹ kế không?

Khách mời

Theo các căn cứ pháp luật vừa trình bày trên đây thì có thể hiểu rằng, con riêng là con của vợ hoặc của chồng và là con đẻ của vợ hoặc của chồng, nếu con riêng đó có cùng huyết thống với vợ hoặc với chồng theo quy định pháp luật.

Các quy định pháp luật về thừa kế không có quy định riêng cũng như khái niệm riêng về người thừa kế là con riêng. Căn cứ Điều 651 Bộ Luật Dân sự 2015, người thừa kế theo pháp luật được quy định và theo thứ tự sau đây:

1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau

3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản

Từ các quy định pháp luật trên đây, chúng ta có thể thấy rằng nếu là con đẻ thì chứng minh bằng quan hệ huyết thống, còn nếu là con nuôi thì chứng minh bằng quan hệ pháp luật. Vậy nếu con riêng của vợ, hoặc con riêng của chồng là con ruột của vợ hoặc của chồng theo quan hệ huyết thống thì họ cần chứng minh để hướng phần di sản thừa kế theo hàng thừa kế thứ nhất là con đẻ do cha, hoặc mẹ của họ để lại.

Ngoài ra, Bộ Luật Dân sự 2015 tại Điều 654 có quy định về quan hệ thừa kế giữa con riêng và bố dượng, mẹ kế như sau: Con riêng và bố dượng, mẹ kế nếu có quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng nhau như cha con, mẹ con thì được thừa kế di sản của nhau và còn được thừa kế di sản theo quy định tại Điều 652 và Điều 653 của Bộ Luật Dân sự. Tức là được hưởng quyền thừa kế thế vị và quyền thừa kế theo quan hệ thừa kế giữa con nuôi và cha nuôi, mẹ nuôi và cha đẻ, mẹ đẻ như tôi vừa trình bày trên đây.

Chủ biên

Vậy đối với mối quan hệ giữa cha nuôi, mẹ nuôi và con nuôi thì pháp luật quy định như thế nào về quyền, nghĩa vụ của cha nuôi, mẹ nuôi và quyền thừa kế của con nuôi đối với cha nuôi, mẹ nuôi?

Khách mời

Trước hết, chúng ta phải hiểu về định nghĩa của “con nuôi”. Theo Luật nuôi con nuôi 2010, con nuôi là người được nhận làm con nuôi sau khi việc nuôi con nuôi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký. Như vậy, một cá nhân được nhận làm con nuôi phải thông qua các trình tự thủ tục hợp pháp theo luật định thì mới được pháp luật công nhận là con nuôi. Việc nuôi con nuôi phải bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của người được nhận làm con nuôi và người nhận con nuôi, tự nguyện, bình đẳng, không phân biệt nam nữ, không trái pháp luật và đạo đức xã hội.

Theo các quy định pháp luật và các phân tích đã trình bày trên đây thì con nuôi, con chung hay con riêng đều có các nghĩa vụ và quyền được cha mẹ chăm sóc nuôi dưỡng như nhau và có các nghĩa vụ và quyền chăm sóc cha mẹ mà không phân biệt là cha mẹ nuôi, cha mẹ kế hay cha mẹ đẻ.

Vì vậy, kể từ thời điểm quan hệ nuôi con nuôi được xác lập theo quy định của Luật nuôi con nuôi, thì cha nuôi, mẹ nuôi và con nuôi có quyền và nghĩa vụ của cha, mẹ, con được quy định trong Luật Hôn nhân và Gia đình như tôi đã đề cập tại các câu hỏi trước.

Đối với quyền thừa kế của con nuôi, pháp luật dân sự quy định rằng con nuôi có quyền thừa kế di sản của cha nuôi, mẹ nuôi. Theo đó, con nuôi thuộc hàng thừa kế thứ nhất của cha nuôi, mẹ nuôi, đồng thời được áp dụng nguyên tắc thừa kế thế vị đối với con/cháu của con nuôi.

Chủ biên

Đây thật sự là các thông tin bổ ích đối với các quý thính giả có những mối quan hệ gia đình không cùng huyết thống. Như luật sự và quý thính giả cũng đã biết, ngoài các quan hệ gia đình cha mẹ con như vừa đề cập trên đây thì một nôi dung khác cũng không kém phần quan trọng, đó là pháp luật giải quyết vấn đề con chung như thế nào khi cha mẹ ly hôn.

Xin luật sư chia sẻ về trường hợp vợ, chồng ly hôn thì pháp luật quy định về quyền và nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng con chung như thế nào?

Khách mời

Trước khi đi vào phần câu hỏi chính, chúng ta cũng thử tìm hiểu xem pháp luật hôn nhân và gia gia đình Việt Nam quy định như thế nào về “con chung”. Theo đó, để xác định cha, mẹ, con, Điều 88 của Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 quy định như sau:

1. Con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân là con chung của vợ chồng.

  • Con được sinh ra trong thời hạn 300 ngày kể từ thời điểm chấm dứt hôn nhân được coi là con do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân.
  • Con sinh ra trước ngày đăng ký kết hôn và được cha mẹ thừa nhận là con chung của vợ chồng.

2. Trong trường hợp cha, mẹ không thừa nhận con thì phải có chứng cứ và phải được Tòa án xác định.

Tóm lại có thể hiểu rằng con chung là con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân của vơ chồng, con sinh ra trước ngày đăng ký kết hôn nhưng được vợ chồng thừa nhận là con chung và con được chứng minh bằng chứng cứ mà pháp luật thừa nhận là con chung.

Theo Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn được quy định tại Điều 81 như sau:

  1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình, Bộ Luật Dân sự và các luật khác có liên quan.
  2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.
  3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.
Chủ biên

Như vậy, có thể thấy rằng về nguyên tắc, quyền và nghĩa vụ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung sau khi ly hôn, có hai cách quyết định: Một là do sự thỏa thuận của vợ chồng và được Tòa án công nhận và Hai là do Tòa án quyết định căn cứ trên quy định pháp luật và chứng cứ do hai bên trình nộp cho Toà án.

Dù theo cách nào thì sau khi ly hôn, chỉ có một bên vợ, hoặc chồng được quyền trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Vậy thì pháp luật quy định như thế nào đối với người không trực tiếp nuôi con?

Khách mời

Như chúng tôi đã đề cập trên đây, sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình, Bộ Luật Dân sự và các luật khác có liên quan.

Đối với người không trực tiếp nuôi con, Điều 82 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 quy định về các quyền và nghĩa vụ của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con như sau:

  1. Trước hết, Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi;
  2. Thứ hai, Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con; và
  3. Thứ ba, Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Chủ biên

Qua câu hỏi và trả lời vừa rồi, chúng ta đã có thể nắm được các quyền và nghĩa vụ của cha, mẹ khi ly hôn trong mối quan hệ với con chung. Vậy pháp luật quy định như thế nào về nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ trực tiếp nuôi con đối với người không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn?

Khách mời

Pháp luật hôn nhân và gia đình không chỉ đặt ra các quy định giữa mỗi bên cha, mẹ đã ly hôn đối với con chung mà cũng quy định về nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ trực tiếp nuôi con đối với người không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn như sau:

  1. Thứ nhất, cha, mẹ trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con thực hiện các nghĩa vụ theo quy định tại Điều 82 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 mà tôi đã trình bày trong câu hỏi trước, yêu cầu người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình.
  2. Thứ hai, cha. mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Chủ biên

Như luật sư và quý thính giả đều biết, mặc dù có những trường hợp ly hôn trong đồng thuận nhưng cũng có những trường hợp ly hôn khó khăn và phức tạp, nhất là phát sinh tranh chấp về quyền trực tiếp nuôi con chung và quan hệ về tài sản chung khi ly hôn và sau khi ly hôn.

Pháp luật về hôn nhân và gia định đã có các quy định rõ ràng về quyền và nghĩa vụ của cha mẹ là người trực tiếp nuôi con chung và người không trực tiếp nuôi con chung. Tuy nhiên, sau khi ly hôn thì người trực tiếp nuôi con chung và người không trực tiếp nuôi con chung đã không thực hiện đúng các quy định và dẫn đến phát sinh tranh chấp về quyền nuôi con chung cũng như quyền thăm nom con chung. Luật sư cho biết thêm, pháp luật giải quyết như thế nào trong các tình huống này?

Khách mời

Đúng vậy. Có nhiều trường hợp tranh chấp sau khi ly hôn liên quan đến quyền trực tiếp nuôi con chung và quyền thăm nom con chung sau khi ly hôn. Trong những trường hợp như vậy thì hai bên có thể thỏa thuận cùng nhau tìm một giải pháp ôn hòa để bảo đảm quyền và nghĩa vụ của hai bên; hoặc nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết để thay đổi quyền của người trực tiếp nuôi con chung.

Căn cứ Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 thì việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn được quy định như sau:

1. Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều này, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

2. Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con được giải quyết khi có một trong các căn cứ sau đây:

  1. Cha, mẹ có thỏa thuận về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phù hợp với lợi ích của con;
  2. Người trực tiếp nuôi con không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

3. Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phải xem xét nguyện vọng của con từ đủ 07 tuổi trở lên.

4. Trong trường hợp xét thấy cả cha và mẹ đều không đủ điều kiện trực tiếp nuôi con thì Tòa án quyết định giao con cho người giám hộ theo quy định của Bộ luật dân sự.

5. Trong trường hợp có căn cứ theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều này thì trên cơ sở lợi ích của con, cá nhân, cơ quan, tổ chức sau có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con:

  1. Người thân thích;
  2. Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình;
  3. Cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em;
  4. Hội liên hiệp phụ nữ.

Theo đó thì yêu cầu thay đổi quyền trực tiếp nuôi con có được chấp thuận hay không là tùy thuộc vào nhận định của Tòa án trên cơ sở các chứng cứ hợp lệ do hai bên trình nộp cho Tòa theo hồ sơ khơi kiện.

Chủ biên

Trong một góc độ khác về quyền và nghĩa vụ nuôi dưỡng, chăm sóc con của cha mẹ, Luật sư có thể cho biết là cha, mẹ có thể bị hạn chế những quyền này hay không? Và nếu có thì căn cứ vào các trường hợp nào?

Khách mời

Căn cứ Điều 85 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, pháp luật chỉ quy định về việc hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên như sau:

1. Cha, mẹ bị hạn chế quyền đối với con chưa thành niên trong các trường hợp sau đây:

  1. Bị kết án về một trong các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con với lỗi cố ý hoặc có hành vi vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con;
  2. Phá tán tài sản của con;
  3. Có lối sống đồi trụy;
  4. Xúi giục, ép buộc con làm những việc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội.

2. Căn cứ vào từng trường hợp cụ thể, Tòa án có thể tự mình hoặc theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức quy định tại Điều 86 của Luật này ra quyết định không cho cha, mẹ trông nom, chăm sóc, giáo dục con, quản lý tài sản riêng của con hoặc đại diện theo pháp luật cho con trong thời hạn từ 01 năm đến 05 năm. Tòa án có thể xem xét việc rút ngắn thời hạn này.

Chủ biên

Như luật sư vừa trình bày trên đây, Vậy thì ai là người có quyền yêu cầu hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên trong trường hợp nêu trên? Và cơ quan nào sẽ có thẩm quyền giải quyết?

Khách mời

Theo Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, các cá nhân, tổ chức sau đây có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền của cha mẹ đối với con chưa thành niên:

  1. Thứ nhất là cha hoặc mẹ của con chưa thành niên;
  2. Thứ hai là người thân thích;
  3. Thứ ba là người giám hộ của con chưa thành niên;
  4. Thứ tư là cơ quan quản lý nhà nước về gia đình;
  5. Thứ năm là cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em; và
  6. Cuối cùng là Hội liên hiệp phụ nữ.

Chúng ta cũng nên lưu ý rằng Tòa án chính là cơ quan duy nhất có thẩm quyền giải quyết yêu cầu về việc hạn chế quyền của cha mẹ đối với con chưa thành niên, và chính Tòa án mới có thẩm quyền ra tuyên bố về việc hạn chế quyền này đối với cá nhân bị yêu cầu.

Chủ biên

Nhân đây, mời Luật sư hãy phân tích cụ thể hơn về hậu quả pháp lý mà một bên cha, mẹ phải chịu trách nhiệm khi bị Tòa án tuyên bố hạn chế quyền đối với con chưa thành niên?

Khách mời

Nếu cha, mẹ bị Tòa án hạn chế quyền đối với con chưa thành niên thì người kia thực hiện quyền trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con, quản lý tài sản riêng của con và đại diện theo pháp luật cho con.

Trường hợp khác, việc trông nom, chăm sóc, giáo dục con và quản lý tài sản riêng của con chưa thành niên được giao cho người giám hộ theo quy định của Bộ luật Dân sự và Luật Hôn nhân và Gia đình trong các trường hợp sau:

  1. Thứ nhất, cha và mẹ đều bị Tòa án hạn chế quyền đối với con chưa thành niên;
  2. Thứ hai, một bên cha, mẹ không bị hạn chế quyền đối với con chưa thành niên nhưng không đủ điều kiện để thực hiện quyền, nghĩa vụ đối với con; và
  3. Thứ ba là, một bên cha, mẹ bị hạn chế quyền đối với con chưa thành niên và chưa xác định được bên cha, mẹ còn lại của con chưa thành niên.

Điểm cần lưu ý nhất là việc một bên cha, mẹ bị Tòa án tuyên bố hạn chế quyền đối với con chưa thành niên không loại bỏ nghĩa vụ thực hiện cấp dưỡng cho con.

Chủ biên

Hiện nay có rất nhiều người nước ngoài đến Việt Nam để học tập, làm ăn, sinh sống, và sau đó là kết hôn tại Việt Nam, họ có thể là kết hôn với một người nước ngoài khác hoặc kết hôn với người Việt Nam theo quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam.

Vậy Luật sư vui lòng cho biết cha/mẹ nước ngoài trong trường hợp này có phải thực hiện các quyền và nghĩa vụ nuôi dưỡng, chăm sóc con theo quy định của pháp luật Việt Nam không?

Khách mời

Theo pháp luật về hôn nhân và gia đình Việt Nam, tại Điều 126 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 quy định về kết hôn có yếu tố nước ngoài như sau:

1. Trong việc kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, mỗi bên phải tuân theo pháp luật của nước mình về điều kiện kết hôn; nếu việc kết hôn được tiến hành tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam thì người nước ngoài còn phải tuân theo các quy định của Luật Hôn nhân và Gia đ về điều kiện kết hôn.

2. Việc kết hôn giữa những người nước ngoài thường trú ở Việt Nam tại cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam phải tuân theo các quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình về điều kiện kết hôn.

Từ các quy định trên đây thì chúng ta có thể hiểu rằng người nước ngoài dù là kết hôn với người Việt Nam hay giữa hai người nước ngoài thường trú tại Việt Nam với nhau, tại cơ quan thẩm quyền Việt Nam thì phải tuân theo các quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình Việt Nam về điều kiện kết hôn.

Ngoài ra, những nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình theo pháp luật Việt Nam cũng quy định rõ, hôn nhân giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ. Pháp luật về hôn nhân và gia đình Việt Nam quy định về việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên trong quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài, cụ thể:

1. Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài được tôn trọng và bảo vệ phù hợp với các quy định của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

2. Trong quan hệ hôn nhân và gia đình với công dân Việt Nam, người nước ngoài tại Việt Nam có các quyền, nghĩa vụ như công dân Việt Nam, trừ trường hợp pháp luật Việt Nam có quy định khác.

Dựa trên các quy định nêu trên, cha/mẹ là người nước ngoài tại Việt Nam cũng có các quyền và nghĩa vụ như cha/mẹ là công dân Việt Nam, tuân theo quy định của pháp luật Việt Nam về quyền và nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng con chung cả trong thời kỳ hôn nhân và sau khi ly hôn, như các nội dung mà tôi và Phương Uyên đã thảo luận với các quý thính giả trước đó.

Chủ biên

Cảm ơn Luật sư Thuyết đã cung cấp nhiều thông tin hữu ích, và vô cùng quan trọng về chủ đề ngày hôm nay. Em tin rằng các quý thính giả sẽ có những hiểu biết rõ hơn về các vấn đề pháp lý xoay quanh việc quyền và nghĩa vụ của cha, mẹ đối với con trong thời kỳ hôn nhân và sau khi ly hôn theo quy định của pháp luật Việt Nam.

Khách mời

Cảm ơn Phương Uyên đã cùng trao đổi với tôi về một chủ đề rất thực tế và gần gũi trong đời sống xã hội như vậy. Hy vọng qua chương trình Podcast này, các quý thính giả sẽ tìm được những thông tin hữu ích cho bạn và gia đình.

Chủ biên

Đến đây, Podcast của The Lawyers Talk xin được khép lại chủ đề hôn nhân và gia đình, cảm ơn quý thính giả đã quan tâm theo dõi, xin chào và hẹn gặp lại trong số Podcast kỳ sau.

Nếu có bất kỳ câu hỏi hay thắc mắc nào, các bạn để lại dòng bình luận bên dưới.

Hoặc để biết thêm thông tin về BLawyers Vietnam, xin mời các bạn xem website của chúng tôi bên dưới màn hình Podcast của The Lawyers Talk.

Xin chào và hẹn gặp lại.

Nội dung nêu trên không phải là ý kiến tư vấn chính thức từ BLawyers Vietnam. Nếu bạn có bất kỳ câu hỏi hay góp ý về nội dung trên  vui lòng liên hệ với chúng tôi qua địa chỉ ⁠⁠⁠⁠consult@blawyersvn.com⁠⁠⁠⁠. Chúng tôi rất vui khi nghe từ bạn.

Ngày: 21/01/2024

Chủ biên

Thanhnguyen
Thanh Nguyễn

Xem thêm thông tin tại đường dẫn

#9 Hôn nhân và Gia đình: Quyền và nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng con chung trong thời kỳ hôn nhân và sau khi ly hôn theo pháp luật Việt Nam
Uyên Trần

Xem thêm thông tin tại đường dẫn

Khách mời

#9 Hôn nhân và Gia đình: Quyền và nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng con chung trong thời kỳ hôn nhân và sau khi ly hôn theo pháp luật Việt Nam
Thuyết Trần

Xem thêm thông tin tại đường dẫn