Cập nhật một số quy định mới trong tháng 08/2026 (Quản lý ngoại thương, Đăng ký doanh nghiệp và Quyền tiếp cận thông tin)

BLawyers Vietnam-Newsletter in August 2026

Bản tin pháp luật Việt Nam #49 mang đến bạn các thông tin sau:

BẢN TIN PHÁP LUẬT

I. Khung pháp lý mới cho hoạt động ngoại thương tại Việt Nam

Vào ngày 22/7/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 292/2026/NĐ-CP (“Nghị Định 292/2026”) quy định chi tiết một số điều của Luật Quản lý ngoại thương. Nghị Định này chính thức có hiệu lực thi hành kể từ ngày 05/9/2026 và thay thế trực tiếp Nghị định số 69/2018/NĐ-CP.

Nghị Định 292/2026 quy định chặt chẽ danh mục hàng hóa cấm xuất khẩu, nhập khẩu; các cơ chế, thủ tục trong một số hoạt động ngoại thương như tạm nhập, tái xuất, chuyển khẩu, quá cảnh, đại lý mua, bán, gia công có yếu tố nước ngoài. Đây là một văn bản quan trọng mà các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu, các tổ chức và cá nhân liên quan cần đặc biệt lưu ý để có sự chuyển đổi và chuẩn bị hồ sơ, thủ tục phù hợp với quy định pháp luật.

1. Bổ sung các nhóm danh mục hàng hóa và thay đổi cơ quan có thẩm quyền quản lý đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu

Nghị Định 292/2026 bổ sung các sản phẩm cấm xuất khẩu, nhập khẩu, thắt chặt quản lý các sản phẩm này bằng cách phân định rõ thẩm quyền của từng Bộ, Ngành. Đồng thời, Nghị Định 292/2026 thay đổi thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận lưu hành tự do (CFS) đối với sản phẩm xuất khẩu. Cụ thể như sau:

  1. Thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng chính thức được đưa vào danh mục cấm xuất nhập khẩu, chịu sự quản lý của Bộ Công Thương;
  2. Loại bỏ nhóm hàng hóa cấm nhập khẩu đối với các loại ô tô và các phương tiện giao thông vận tải khác bị đục sửa số khung, số máy có văn bản hợp pháp hóa lãnh sự xác nhận việc tẩy xóa, đục sửa, đóng lại số khung, số động cơ được thực hiện bởi nhà sản xuất trong vòng 30 ngày, chịu sự quản lý của Bộ Xây dựng;
  3. Cấm nhập khẩu thuốc thú y cấm sử dụng tại Việt Nam, chịu sự quản lý của Bộ Nông nghiệp và Môi trường; và
  4. Thẩm quyền cấp phép CFS cho hàng hóa xuất khẩu được giao cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, không còn tập trung ở các Bộ như trước đây.
2. Quy định rõ thời gian đối với hoạt động tạm nhập, tái xuất và kinh doanh chuyển khẩu

Nghị Định 292/2026 đã quy định rõ thời gian lưu giữ hàng hóa và danh mục hàng hóa cấm kinh doanh tạm nhập, tái xuất, chuyển khẩu tại Phụ lục V Nghị Định này như sau:

  1. Hàng hóa kinh doanh tạm nhập, tái xuất chỉ được lưu lại tại Việt Nam không quá 60 ngày kể từ ngày hoàn thành thủ tục hải quan tạm nhập. Doanh nghiệp chỉ được gia hạn tối đa 02 lần cho mỗi lô hàng tạm nhập, tái xuất, mỗi lần không quá 30 ngày. Quá thời hạn nêu trên doanh nghiệp bắt buộc phải tái xuất hàng hóa ra khỏi Việt Nam hoặc tiêu hủy theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường và pháp luật về hải quan;
  2. Bộ Công Thương có quyền công bố danh mục hàng hóa tạm ngừng kinh doanh tạm nhập, tái xuất để ngăn ngừa ô nhiễm môi trường hoặc gian lận thương mại; và
  3. Đối với hình thức chuyển khẩu hàng hóa có qua cửa khẩu Việt Nam phải được đưa vào, đưa ra khỏi Việt Nam tại cùng một khu vực cửa khẩu và chịu sự giám sát của hải quan cho tới khi được đưa ra khỏi Việt Nam.
3. Quá cảnh hàng hóa và đại lý mua, bán

Nghị Định 292/2026 giới hạn thẩm quyền cấp giấy phép đối với các hàng hóa đặc biệt được quá cảnh, và thu hẹp phạm vi hoạt động của thương nhân Việt Nam trong hoạt động đại lý mua, bán. Cụ thể:

  1. Đối với vũ khí và vật liệu nổ được dàn trải thẩm quyền cấp phép cho nhiều Bộ ngành trước đây, nay thu hẹp chỉ Bộ Công Thương mới có thẩm quyền cấp Giấy phép quá cảnh đối với các mặt hàng nhạy cảm này; và
  2. Đối với hoạt động đại lý mua, bán hàng hóa, loại bỏ cơ chế đối với hàng hóa được cấp Giấy phép thương nhân chỉ được ký hợp đồng đại lý sau khi được cấp Giấy phép bởi cơ quan có thẩm quyền, theo đó, cho phép thương nhân được nhận làm đại lý mua, bán hợp pháp cho thương nhân nước ngoài, trừ hàng hóa cấm nhập khẩu, cấm xuất khẩu, hàng hóa tạm ngừng nhập khẩu, tạm ngừng xuất khẩu.
II. Điểm mới về quy định đăng ký doanh nghiệp từ tháng 7/2026

Vào ngày 23/7/2026, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 296/2026/NĐ-CP (“Nghị Định 296/2026”) sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 168/2025/NĐ-CP về đăng ký doanh nghiệp. Nghị Định 296/2026 bổ sung nhiều quy định quan trọng nhằm tăng cường tính minh bạch trong hoạt động đăng ký doanh nghiệp, đồng thời bảo đảm sự thống nhất giữa pháp luật về doanh nghiệp và đầu tư, cụ thể như sau:

1. Tăng cường trách nhiệm kê khai, góp vốn và nghiêm cấm hành vi “đứng tên hộ”

Nghị Định 296/2026 tiếp tục nhấn mạnh trách nhiệm của người thành lập doanh nghiệp, thành viên và cổ đông trong việc kê khai trung thực, đầy đủ thông tin khi đăng ký doanh nghiệp và chịu trách nhiệm về tính chính xác của các thông tin kê khai. Đặc biệt, nghiêm cấm hành vi cho người khác mượn danh nghĩa để góp vốn, sở hữu phần vốn góp hoặc cổ phần trong doanh nghiệp (đứng tên hộ).

2. Hướng dẫn xác định và kê khai chủ sở hữu hưởng lợi trong trường hợp cơ cấu sở hữu nhiều lớp

Nghị Định 296/2026 hướng dẫn chi tiết cách xác định và kê khai chủ sở hữu hưởng lợi đối với các doanh nghiệp có cơ cấu sở hữu phức tạp theo thứ tự ưu tiên. Theo đó, chủ sở hữu hưởng lợi được xác định là:

  1. Cá nhân trực tiếp hoặc gián tiếp sở hữu từ 25% vốn điều lệ hoặc tổng số cổ phần có quyền biểu quyết trở lên của doanh nghiệp hoặc thông qua các tổ chức hoặc thỏa thuận pháp lý khác, bao gồm cả trường hợp nhóm cá nhân có mối quan hệ gia đình hoặc hợp đồng cùng nhau sở hữu;
  2. Đối với công ty hợp danh, tất cả thành viên hợp danh đều được xác định là chủ sở hữu hưởng lợi; và
  3. Trường hợp không thể xác định theo tiêu chí sở hữu hoặc có căn cứ cho thấy người sở hữu không phải là chủ sở hữu hưởng lợi thực sự, doanh nghiệp phải xác định dựa trên quyền kiểm soát cuối cùng trên thực tế. Nếu vẫn không xác định được, người quản lý doanh nghiệp có quyền hạn cao nhất sẽ được xác định là chủ sở hữu hưởng lợi.
3. Bổ sung thành phần hồ sơ đăng ký doanh nghiệp trong trường hợp thành lập tổ chức kinh tế trước, cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư (“GCNĐKĐT”) sau

Nghị Định 296/2026 bổ sung quy định về thành phần hồ sơ đăng ký doanh nghiệp đối với trường hợp nhà đầu tư nước ngoài thực hiện thủ tục thành lập tổ chức kinh tế trước và cấp GCNĐKĐT sau. Theo đó, hồ sơ đăng ký doanh nghiệp không bao gồm bản sao GCNĐKĐT. Tuy nhiên, doanh nghiệp cần phải bổ sung nội dung cam kết đáp ứng điều kiện tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài theo quy định của pháp luật.

III. Khung pháp lý mới đối với tiếp cận thông tin tại Việt Nam

Vào ngày 23/4/2026, Quốc hội đã thông qua Luật số 01/2026/QH16 về tiếp cận thông tin (“Luật TCTT 2026”), thay thế trực tiếp Luật số 104/2016/QH13 (“Luật TCTT 2016”) về tiếp cận thông tin và chính thức có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/9/2026.

Luật TCTT 2026 tập trung quy định về quyền và nghĩa vụ của công dân trong việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin, cũng như trách nhiệm bảo đảm thực hiện của cơ quan, đơn vị. Luật TCTT 2026 còn xác định rõ thông tin được tiếp cận, cũng như các trường hợp bị cấm tiếp cận hoặc được tiếp cận có điều kiện mà công dân cần đặc biệt lưu ý, nhất là trong các hoạt động sao chụp chứng cứ tại Tòa án, Trung tâm Trọng tài hoặc thu thập tài liệu, chứng cứ phục vụ việc khiếu nại, tố cáo.

1. Điều chỉnh phạm vi tiếp cận thông tin đối với người dưới 18 tuổi

Luật TCTT 2026 đã điều chỉnh phạm vi thực hiện quyền tiếp cận thông tin đối với người dưới 18 tuổi nhằm đồng bộ hơn với khung pháp lý về trẻ em so với Luật TCTT 2016. Theo đó, người thực hiện quyền tiếp cận thông tin theo Luật TCTT 2026 bao gồm:

  1. Công dân thực hiện quyền tiếp cận thông tin theo quy định của Luật này;
  2. Người mất năng lực hành vi dân sự thực hiện yêu cầu cung cấp thông tin thông qua người đại diện theo pháp luật. Người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi thực hiện yêu cầu cung cấp thông tin thông qua người giám hộ; và
  3. Người dưới 18 tuổi có thể tự mình hoặc được sự đồng ý của người đại diện hoặc thông qua người đại diện theo quy định của pháp luật dân sự để thực hiện việc yêu cầu cung cấp thông tin, trừ trường hợp Luật Trẻ em và luật khác có quy định khác.
2. Điều chỉnh nhóm thông tin công dân không được tiếp cận

Nhằm đảm bảo sự thống nhất với Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân 2025, Luật TCTT 2026 mở rộng các nhóm thông tin công dân không được tiếp cận so với Luật TCTT 2016 không chỉ bao gồm các thông tin liên quan về bảo vệ bí mật nhà nước, mà còn quy định các thông tin sau:

  1. Thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình theo quy định của pháp luật dân sự và bảo vệ dữ liệu cá nhân, trừ trường hợp luật định; và
  2. Bí mật kinh doanh theo quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ, trừ trường hợp luật định.
3. Mở rộng phạm vi đối với nhóm thông tin phải được công khai

Luật TCTT 2026 mở rộng đáng kể phạm vi thông tin mà cơ quan, đơn vị có trách nhiệm chủ động công khai. Theo đó, Điều 17 Luật TCTT 2026 không chỉ kế thừa các nhóm thông tin về văn bản pháp luật, ngân sách, tổ chức và hoạt động của cơ quan nhà nước, mà còn bổ sung nhiều nội dung cụ thể, đặc biệt trong các lĩnh vực quản lý nhà nước, đầu tư, đất đai, nhà ở, môi trường, y tế, giáo dục và chuyển đổi số. Cụ thể:

  1. Mở rộng thông tin về quản lý nhà nước và tài chính công, bao gồm hồ sơ dự án, tài sản công, việc quản lý và sử dụng tài chính công, ngân sách của đơn vị dự toán và tổ chức được ngân sách Nhà nước hỗ trợ, cũng như kế hoạch và quyết toán của các quỹ tài chính Nhà nước ngoài ngân sách;
  2. Bổ sung thông tin về đầu tư, đấu thầu và kiểm toán, bao gồm dự án đầu tư kinh doanh, kết quả lựa chọn nhà thầu và lý do nhà thầu không trúng thầu; báo cáo kiểm toán sau khi phát hành và kết quả thực hiện kiến nghị kiểm toán;
  3. Mở rộng đáng kể thông tin về đất đai và nhà ở, bao gồm kết quả điều tra, đánh giá đất đai, quyết định cưỡng chế kiểm đếm, các quy hoạch, danh mục dự án nhà ở cho phép tổ chức, cá nhân nước ngoài sở hữu nhà ở, dự án nhà ở đang triển khai và thông tin về cải tạo, xây dựng lại nhà chung cư;
  4. Bổ sung nhiều nhóm thông tin chuyên ngành có tác động trực tiếp đến cộng đồng, như xử phạt vi phạm hành chính trong một số lĩnh vực; thông tin về cơ sở khám bệnh, chữa bệnh; giáo dục; môi trường và đa dạng sinh học; di sản văn hóa; thị trường lao động; và danh mục hồ sơ, tài liệu lưu trữ; và
  5. Bổ sung thông tin về dịch vụ công và chuyển đổi số, bao gồm quy trình, thời hạn và kết quả cung cấp dịch vụ công trực tuyến, chất lượng và khả năng tiếp cận dịch vụ công trực tuyến, kế hoạch chuyển đổi số và kết quả đánh giá mức độ chuyển đổi số.

Nội dung nêu trên không phải là ý kiến tư vấn chính thức từ BLawyers Vietnam. Nếu bạn có bất kỳ câu hỏi hoặc góp ý về nội dung trên, vui lòng liên hệ với chúng tôi qua địa chỉ info@blawyersvn.com. Chúng tôi rất vui khi nghe từ bạn.

Ngày viết: 27/8/2026

Tác giả: BLawyers Vietnam

Đội ngũ thực hiện Bản tin cập nhật tin tức pháp lý

CÁC BÀI BÁO ĐÃ ĐĂNG

NỀN TẢNG ÂM THANH

LIÊN HỆ CHÚNG TÔI

✍ Legal News and Update Team
📩 legalnews@blawyersvn.com

CÁC BẢN TIN PHÁP LUẬT ĐÃ ĐĂNG

Tải bản chất lượng cao tại đây ⇓:

Bản tin Pháp luật #49 (Tiếng Việt)

Có thể bạn muốn đọc thêm CNPL khác của BLawyers Vietnam: Bản tin Pháp luật tháng 4/2026/ Bản tin Pháp luật tháng 5/2026/ Bản tin Pháp luật tháng 6/2026

blawyersvn-cta-image

Yêu cầu tư vấn luật

Vui lòng gọi cho chúng tôi hoặc điền vào mẫu đơn bên dưới. Chúng tôi sẽ phản hồi bạn trong vòng 24 giờ đồng hồ.

This field is for validation purposes and should be left unchanged.