Án lệ số 03/2016/AL – Bất động sản bố mẹ chồng tặng cho trong thời kỳ hôn nhân có được xem là tài sản chung?

Trong cuộc sống hôn nhân, việc phân chia tài sản giữa vợ và chồng luôn là vấn đề nhạy cảm. Đây chính là lý do dẫn đến sự khó khăn cho Tòa án trong việc phân định tài sản riêng, tài sản chung của vợ chồng khi giải quyết vụ việc ly hôn. Với câu hỏi nêu tại phần chủ đề của bài viết, Án lệ số 03/2016/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 06 tháng 4 năm 2016 (“Án Lệ 03”) đã cung cấp ý kiến của cơ quan Nhà nước với vấn đề trên.

Thông qua bài viết này, BLawyers Vietnam sẽ phân tích Án Lệ 03 bên dưới.

I. Định nghĩa về tài sản chung của vợ chồng

Theo quy định của pháp luật, tài sản chung của vợ chồng gồm:

  1. Tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân;
  2. Tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Lưu ý rằng, quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

II. Tóm tắt nội dung Án Lệ 03

Chị H và anh N kết hôn năm 1992, trong thời gian chung sống thì phát sinh mâu thuẫn. Vào năm 2009, chị H khởi kiện xin ly hôn anh N và anh N cũng đồng ý. Trong quá trình sống chung, anh N và chị H có xây dựng một căn nhà. Về nhà, vợ chồng thống nhất rằng đây là tài sản chung, tuy nhiên về đất thì các bên không thống nhất được. Theo chị H, đất này là do bố chồng chị (ông P) được cấp đất, sau đó gia đình ông P đã họp và tuyên bố cho hai vợ chồng chị H và anh N diện tích đất này nhưng không làm giấy tờ. Năm 2001, anh N làm thủ tục và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên anh N. Chị H khẳng định đây là tài sản chung và yêu cầu được thanh toán ½ giá trị đất và nhà trên đất.

Tuy nhiên, anh N không đồng ý vì anh cho rằng bố mẹ anh chỉ cho hai vợ chồng ở nhờ chứ chưa tặng cho vì gia đinh còn đông anh em. Năm 2001, anh đi kê khai làm giấy tờ đất gia đình không biết. Do đó, anh N có quan điểm trả lại đất cho ông P.

Tại bản án sơ thẩm số 03/2011/HNGĐ-ST ngày 17-5-2011, TAND huyện TT đã có quyết định, liên quan đến tài sản chung của chị H và anh N như sau: xác nhận căn nhà là tài sản chung của hai vợ chồng, đồng thời xác nhận thửa đất đang tranh chấp thuộc hộ gia đình ông P. Buộc chị H và anh N phải trả lại cho hộ gia đình ông P quyền sử dụng đất đối với mảnh đất này.

Chị H không đồng ý và kháng cáo, tuy nhiên tại Bản án phúc thẩm số 105/2011/LHPT ngày 30-8-2011 và ngày 06-9-2011 Tòa án nhân dân thành phố HN đã giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Sau đó, chị H tiếp tục có đơn đề nghị xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm. Hội đồng giám đốc thẩm tòa Dân sự Tòa án nhân dân tối cao có nhận định dựa trên các yếu tố pháp lý sau:

  1. Theo xác minh tại UBND xã thì năm 2001 UBND xã đã cho các hộ dân trong xã đăng ký kê khai để xét cấp GCNQSDĐ, tất cả các hộ dân trong xã đều biết nhưng ông P là chủ đất mà không đi kê khai. Anh N là người đang ở trên đất đã đi kê khai là thủ tục cấp GCNQSDĐ.
  2. Hai vợ chồng anh N và chị H đã xây nhà 2 tầng kiên cố và sau đó xây thêm tầng 3, như vậy cho thấy anh N và chị H đã có mục đích ở lâu dài chứ không chỉ đơn thuần là ở nhờ trên đất.
  3. Hai vợ chồng anh N và chị H sống lâu dài trên thửa đất trong 16 năm nhưng gia đình nhà chồng không có bất kỳ ý kiến hay tranh chấp nào.

Do đó, ông P và anh N khai rằng anh N tự ý kê khai giấy tờ đất, ông P không biết là không có cơ sở chấp nhận. Như vậy, có căn cứ xác định lời khai của chị H về việc gia đình ông P đã cho anh chị diện tích đất trên là có cơ sở. Do đó, hủy bản án phúc thẩm và sơ thẩm.

Bên cạnh đó, Án Lệ 03 nêu rõ ràng cần phải xác định diện tích đất tranh chấp trên là tài sản chung của vợ chồng anh N, chị H. Và khi chia tài sản cần cân nhắc đến nguồn gốc đất (được cha mẹ chồng cho) để xác định sự đóng góp của anh N. Phải coi anh N có công sức đóng góp nhiều hơn từ đó được hưởng phần lớn hơn. Ngoài ra, cần phải căn cứ vào nhu cầu về chỗ ở để chia hiện vật cho các bên nhằm đảm bảo quyền lợi cho các đương sự.

Án Lệ 03 còn cho thấy các bên cần lưu tâm đến bằng chứng xác định tài sản chung giữa vợ chồng và việc tặng cho tài sản. Các bên nên tiến hành lập thoả thuận bằng văn bản để tránh những rắc rối không cần thiết.

III. Áp dụng Án lệ 03 cho những trường hợp tương tự

  1. Trường hợp bố mẹ vợ cho con gái, con rể vẫn có thể vận dụng Án Lệ 03 để bảo vệ quyền lợi của mình;
  2. Trường hợp bố mẹ cho con trai và người sống chung với con trai như vợ chồng, người này vẫn có thể vận dụng Án Lệ 03 để xác định đây là tài sản được cho chung; và
  3. Án lệ 03 có thể áp dụng cho trường hợp không phải quyền sử dụng đất mà là chung cư, công trình xây dựng, …

Tóm lại, có thể thấy rằng, nội dung Án Lệ 03 là phù hợp với các quy định pháp luật và thực tiễn. Bởi trên thực tế, không phải mọi ý chí tặng cho đều được thể hiện bằng văn bản mà còn bằng hành vi. Do đó, trường hợp tranh chấp về tài sản trong quá trình ly hôn, một bên có thể vận dụng nội dung án lệ này để bảo vệ quyền lợi của mình.

Nếu bạn có bất kỳ câu hỏi hoặc góp ý về nội dung trên, vui lòng liên hệ với chúng tôi theo địa chỉ consult@blawyersvn.com. BLawyers Vietnam rất muốn nghe từ bạn!

Ngày: 27/02/2022

Người viết: Tuyến Phạm

Maybe you want to read:

27 câu hỏi thường gặp về chế định tài sản trước khi kết hôn và phân chia tài sản khi ly hôn

21 câu hỏi thường gặp về quan hệ vợ chồng trong giai đoạn ly hôn và thủ tục ly hôn

Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất do vợ hoặc chồng xác lập đã được công chứng có hủy bỏ được không?

blawyersvn-cta-image

Yêu cầu tư vấn luật miễn phí

Vui lòng gọi cho chúng tôi hoặc điền vào mẫu đơn bên dưới. Chúng tôi sẽ phản hồi bạn trong vòng 24 giờ đồng hồ.

  • This field is for validation purposes and should be left unchanged.