Cơ sở nào xác định di sản thừa kế là quyền sử dụng đất trong trường hợp di chúc không thể hiện diện tích đất cụ thể?

Án lệ số 72.2024

Trong thực tiễn giải quyết tranh chấp thừa kế, vấn đề xác định di sản là quyền sử dụng đất khi di chúc không ghi rõ diện tích cụ thể luôn là một thách thức pháp lý phức tạp. Để giải quyết vấn đề trên, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã thông qua Án lệ số 72/2024/AL vào các ngày 20, 21, 23 tháng 02 năm 2024 (“Án Lệ 72”), thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng trong việc xác định quyền thừa kế đất đai dựa trên ý chí của người lập di chúc, dù không có diện tích đất cụ thể trong di chúc.

Trong bài viết này, BLawyers Vietnam sẽ phân tích một số điểm quan trọng của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ghi nhận trong Án Lệ 72.

1. Khái quát về tính hợp pháp của di chúc bằng văn bản có người làm chứng

Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết. Theo đó, di chúc hợp pháp phải đáp ứng các điều kiện sau đây:

  1. Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép;
  2. Nội dung của di chúc không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của luật.

Đối với trường hợp người để lại di sản lập di chúc bằng văn bản có người làm chứng, thì phải đáp ứng điều kiện có ít nhất là hai người làm chứng, người lập di chúc phải ký hoặc điểm chỉ vào bản di chúc trước mặt những người làm chứng và những người làm chứng xác nhận chữ ký, điểm chỉ của người lập di chúc và ký vào bản di chúc.

2. Tóm tắt nội dung Án Lệ 72

Án Lệ 72 liên quan đến tranh chấp quyền thừa kế quyền sử dụng đất giữa nguyên đơn là bà Nguyễn Thị G (“Bà G”) với bị đơn là ông Nguyễn Văn U (“Ông U”) và 19 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Cụ thể, tranh chấp giữa Bà G và Ông U là tranh chấp về quyền thừa kế diện tích đất 32.500m2 (đo đạc thực tế là 35.180,7m2), thuộc thửa đất số 809, 810 tờ bản đồ số 10D nay là thửa đất số 135,136 tờ bản đồ số 10 (theo hồ sơ địa chính năm 2006) tại ấp N, xã T, huyện C (nay là huyện P), tỉnh Cà Mau (“Phần Đất Tranh Chấp”) với những nội dung như sau:

  1. Phần Đất Tranh Chấp có nguồn gốc là của cụ Nguyễn Văn M (“Cụ M”) chết năm 1998 và cụ Nguyễn Thị B (“Cụ B”) chết năm 2010. Hiện trạng trên đất có 01 nhà chính diện tích 58,29m2 được xây năm 1993, cây nước khoan, cây trồng và khu mộ gồm 03 ngôi mộ;
  2. Cụ M và Cụ B có 08 người con gồm: Bà Nguyễn Thị H, bà Nguyễn Thị M1, ông Nguyễn Văn C (đã chết, không rõ năm nào), Bà G, ông Nguyễn Văn K (chết năm 2016), ông Nguyễn Văn L, bà Nguyễn Thị P, Ông U;
  3. Năm 1994 – 1995, Ông U ra ở riêng trên phần đất tại ấp A, xã T, huyện P, còn Bà G chung sống với cha mẹ từ nhỏ và quản lý, sử dụng phần đất 32.500m2 nêu trên từ đó cho đến nay;
  4. Vào ngày 16/5/1998, Cụ M và Cụ B lập di chúc (“Tờ Di Chúc 1998”) để lại cho Bà G phần đất 15 công tầm cấy, không ghi diện tích đất cụ thể, nhưng có nêu tứ cận của khu đất: Mặt tiền giáp Kênh N, Đông (hậu) giáp Nguyễn Văn L1, Bắc giáp Lý Tùng H1, Tây giáp Quách Văn M2. Khi lập di chúc Cụ M vẫn còn minh mẫn và Tờ Di Chúc 1998 do Cụ M và Cụ B lập có chữ ký của các con (bao gồm Ông U) và được chính quyền địa phương xác nhận;
  5. Vào ngày 15/6/2004, sau khi Cụ M mất, Cụ B họp các con trong gia đình và thống nhất để toàn bộ 32.500m2 đất cho Bà G quản lý và thờ phụng ông bà theo Biên bản họp gia đình (“Biên Bản Họp”). Biên Bản Họp có chữ ký của các con (không có chữ ký của Ông U) và được chính quyền địa phương xác nhận;
  6. Vì cho rằng minh được Cụ M, Cụ B tặng cho Phần Đất Tranh Chấp từ năm 1998 nên ngày 15/11/2000, Ông U đăng ký, kê khai quyền sử dụng đất và được Ủy ban nhân dân huyện C cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số R202211;
  7. Vào ngày 09/9/2006, Cụ B tiếp tục lập di chúc (“Tờ Di Chúc 2006”) để lại cho Bà G Phần Đất Tranh Chấp. Tờ Di Chúc 2006 có xác nhận của chính quyền địa phương thể hiện tại thời điểm lập di chúc và họp gia đình các con của Cụ M, Cụ B không ai có ý kiến phản đối việc hai cụ cho Bà G Phần Đất Tranh Chấp nêu trên. Sau khi Cụ B chết, Bà G tiếp tục quản lý và sử dụng đất cho đến nay;
  8. Theo Phiếu cung cấp thông tin địa chính số 32/PCCTT ngày 29/12/2016 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện P (“Phiếu Cung Cấp Thông Tin”), Phần Đất Tranh Chấp đã được Cụ M đăng ký năm 1993, được Ủy ban nhân dân huyện C cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và đến năm 2006, Bà G tiếp tục đăng ký, kê khai quyền sử dụng đất. Riêng đối với hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho Ông U, Ủy ban nhân dân huyện P cho biết đã thất lạc tài liệu này;
  9. Ông U trình bày, Phần Đất Tranh Chấp do Cụ M, Cụ B tặng cho ông theo Biên bản họp gia đình năm 1998. Tuy nhiên, Ông U không được ra được bằng chứng chứng minh lời khai của mình;
  10. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm đã công nhận Bà G được hưởng thừa kế đối với phần đất là di sản của Cụ M, Cụ B.
3. Nhận định về Án Lệ 72

Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã quyết định giữ nguyên Bản án dân sự phúc thẩm với nhận định rằng:

  1. Theo Tờ Di Chúc 1998, Cụ M và Cụ B cho Bà G diện tích đất là 15 công tầm lớn. Mặc dù di chúc không ghi diện tích đất cụ thể, chỉ ghi là 15 công tầm lớn nhưng có nếu tử cận của khu đất: Mặt tiền giáp Kênh N, Đông (hậu) giáp Nguyễn Văn L1, Bắc giáp Lý Tùng H1, Tây giáp Quốc Văn M2. Như vậy, phần đất Bà G được cha, mẹ cho là đất có khuôn viên, xung quanh tiếp giáp với kênh N và đất của các hộ dân khác, hiện nay không có tranh chấp về tứ cận. Sau khi Cụ M chết, tại Biên Bản Họp 2004 và Tờ Di Chúc 2006, Cụ B đã thể hiện ý chí cho Bà G toàn bộ diện tích 32.500m2 đất, điều này phù hợp với Tờ Di Chúc 1998; và
  2. Khi giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm căn cứ vào nội dung của di chúc, biên bản họp gia đình, lời khai của các con Cụ M, Cụ B và quá trình quản lý, sử dụng đất liên tục từ năm 1998 của Bà G cũng như việc kê khai, đăng ký đất từ đó chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Bà G, công nhận Bà G được hưởng thừa kế đối với phần đất là di sản của Cụ M, Cụ B là có căn cứ.

Như vậy, bằng việc thông qua Án Lệ 72, Hội đồng Thẩm phán Tòa án Nhân dân tối cao đã công nhận quyền sử dụng đất có tranh chấp là di sản thừa kế và thừa nhận quyền sử dụng đất tồn tại trên thực tế cho người được chỉ định trong di chúc mặc dù di chúc chỉ nêu tứ cận và không nêu diện tích đất cụ thể. Điều này thể hiện tôn trọng ý chí của người quá cố được thể hiện trong di chúc và bảo vệ quyền lợi của người được chỉ định trong di chúc.

Nội dung nêu trên không phải là ý kiến tư vấn chính thức từ BLawyers Vietnam. Nếu bạn có bất kỳ câu hỏi hoặc góp ý về nội dung trên, vui lòng liên hệ với chúng tôi qua địa chỉ info@blawyersvn.com. Chúng tôi rất vui khi nghe từ bạn.

Ngày: 17/12/2024

Người viết: Thảo Lưu và Thái Bùi

blawyersvn-cta-image

Yêu cầu tư vấn luật

Vui lòng gọi cho chúng tôi hoặc điền vào mẫu đơn bên dưới. Chúng tôi sẽ phản hồi bạn trong vòng 24 giờ đồng hồ.

This field is for validation purposes and should be left unchanged.