Quan niệm “Nữ nhi ngoại tộc” có phải là một lý do để người nữ không được bình đẳng chia di sản thừa kế trong xã hội Việt Nam?

Hiện nay, dường như vẫn còn nhiều người vẫn quan niệm trọng nam khinh nữ, đặc biệt còn mang nặng tư tưởng lạc hậu từ thời kỳ phong kiến xa xưa, như: “nữ nhi ngoại tộc” tức là người con gái sinh ra sẽ không còn thuộc giòng họ của mình. Vậy, trường hợp cha mẹ qua đời, đây có phải là một lý do để người phụ nữ được hưởng phần di sản thừa kế ít hơn trong xã hội Việt Nam không? BLawyers Vietnam sẽ phân tích dưới đây.

thừa kế

1. Khái niệm quyền thừa kế

Quyền thừa kế được quy định tại Điều 609 Bộ luật dân sự 2015 (“BLDS 2015”). Theo đó, cá nhân có quyền sở hữu đối với tài sản có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình cho người thừa kế sau khi chết. Trường hợp không lập di chúc, tài sản sẽ để lại cho những người thừa kế theo quy định của pháp luật.

Thừa kế theo pháp luật phát sinh dựa trên các mối quan hệ như hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng. Thừa kế theo di chúc phát sinh theo ý chí của người lập di chúc.

2. Các trường hợp không được hưởng quyền thừa kế

Điều 621 BLDS 2015 quy định những người không được quyền hưởng di sản bao gồm:

  1. Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe hoặc về hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người đó;
  2. Người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản; và
  3. Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật.

Căn cứ vào các quy định trên, dễ dàng nhìn thấy rằng giới tính không phải là một yếu tố để tước quyền hưởng tài sản của người thừa kế.

3. Nguyên tắc bình đẳng trong quan hệ thừa kế

Điều 16 Hiếp pháp 2013 quy định mọi người đều bình đẳng trước pháp luật và không ai bị phân biệt đối xử trong đời sống chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội. Trên tinh thần của Hiến pháp, BLDS 2015 đã quy định tại Điều 3.1 nhằm thể hiện rõ nguyên tắc bình đẳng này đó là mọi cá nhân, pháp nhân đều bình đẳng, không được lấy bất kỳ lý do nào để phân biệt đối xử; được pháp luật bảo hộ như nhau về các quyền nhân thân và tài sản.

Trên cơ sở những nguyên tắc chung của pháp luật dân sự, trong quan hệ thừa kế nguyên tắc bình đẳng được thể hiện tại điều 610 BLDS 2015, mọi cá nhân đều bình đẳng về quyền để lại tài sản của mình cho người khác và quyền hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật. Do đó sự bình đẳng được thể hiện ở các khía cạnh sau:

  1. Vợ chồng có quyền hưởng di sản của nhau khi người kia chết trước. Điều 651.1 BLDS 2015 đề cập đến hàng thừa kế thứ nhất bao gồm vợ hoặc chồng của người chết. Do đó, vợ chồng sẽ được hưởng di sản của nhau và được hưởng ở hàng thừa kế thứ nhất của nhau;
  2. Cha, mẹ có quyền ngang nhau trong việc hưởng di sản thừa kế của con. Điều 651.1 BLDS 2015 cũng quy định cha, mẹ thuộc hàng thừa kế thứ nhất của con. Do đó, cha mẹ đều có quyền ngang nhau đối với tài sản thừa kế không phân biệt nam hay nữ;
  3. Các con không phân biệt con gái hay con trai đều có quyền hưởng di sản thừa kế của cha, mẹ. Nguyên tắc con gái có quyền thừa kế như con trai đã được thiết lập bởi pháp luật từ thời phong kiến và nguyên tắc này vẫn được duy trì tại BLDS 2015. Ví dụ: cha mẹ chết để lại di sản thì các con đều thuộc hàng thừa kế thứ nhất theo quy định tại điều 651.1 BLDS 2015 và họ được chia phần di sản ngang nhau; và
  4. Những người thân thích khác của người chết được hưởng di sản của người đó một cách ngang nhau nếu họ cùng một hàng thừa kế. Chẳng hạn, ông bà có quyền ngang nhau khi hưởng di sản của cháu mà không phân biệt ông hay bà, ông bà nội hay ngoại; các cháu không phân biệt cháu nội hay ngoại, cháu trai hay gái luôn có quyền ngang nhau khi hưởng thừa kế; anh, chị, em ruột có quyền ngang nhau khi hưởng di sản mà không phân biệt anh trai, chị gái, em trai, em gái… cũng như không phân biệt cô, dì, chú, bác, cậu khi hưởng di sản, …

Như vậy, cho dù là ở đâu đó còn quan niệm “nữ nhi ngoại tộc” thì pháp luật vẫn quy định người con gái vẫn thuộc hàng thừa kế thứ nhất của cha mẹ. Do đó, nếu di sản được chia theo pháp luật thì người con gái vẫn được hưởng di sản thừa kế bằng với phần của con trai từ bố mẹ ngoại trừ nếu thuộc các trường hợp không được hưởng nêu tại mục 2 trên đây.

Nếu bạn có bất kỳ câu hỏi hoặc góp ý về nội dung trên, vui lòng liên hệ với chúng tôi theo địa chỉ consult@blawyersvn.com. BLawyers Vietnam rất muốn nghe từ bạn!

Ngày: 29/08/2022

Người viết: Huy Nguyễn

Maybe you want to read:

Di chúc và thừa kế theo luật Việt Nam: Danh sách 28 câu hỏi “khó” thường gặp

Ở Việt Nam, cha mẹ tặng riêng tài sản cho con sau khi kết hôn cần lưu ý gì?

blawyersvn-cta-image

Yêu cầu tư vấn luật miễn phí

Vui lòng gọi cho chúng tôi hoặc điền vào mẫu đơn bên dưới. Chúng tôi sẽ phản hồi bạn trong vòng 24 giờ đồng hồ.

  • This field is for validation purposes and should be left unchanged.