3 điều nào cần xem xét trước khi tiến hành một vụ kiện ở Việt Nam?

Ngày viết: 29/5/2021

Tác giả: Trúc Nguyễn và Quang Nguyễn

Các khách hàng của chúng tôi thường quan ngại về tỷ lệ khả năng thắng kiện mà luật sư chúng tôi có thể giúp đối với vụ kiện của họ. Thật sự mà nói, khó có thể khẳng định được chắc chắn về vấn đề này. Có một số lý do chính như sau:

1. Thủ tục tố tụng phức tạp trong việc xem xét và giải quyết một vụ kiện

Theo pháp luật Việt Nam, có 2 thủ tục mà một vụ kiện có thể trải qua, bao gồm thủ tục xét xử sơ thẩm và thủ tục xét xử phúc thẩm. Trong đó:

(i) Phiên xét xử sơ thẩm

Phiên xét xử sơ thẩm là bước bắt đầu của một vụ kiện. Tòa án có thẩm quyền sẽ xem xét toàn bộ nội dung của vụ kiện căn cứ trên những tài liệu và những giải trình mà nguyên đơn và bị đơn đã nộp tại phiên tòa.

Để bắt đầu phiên xử này, nguyên đơn phải nộp đơn khởi kiện đến Tòa án Nhân dân có thẩm quyền tại Việt Nam (“Tòa Án”). Ngoài ra, nguyên đơn phải có trách nhiệm thu thập và nộp chứng cứ để bổ trợ cho yêu cầu của mình.

Nếu tranh chấp có liên quan đến thu hồi nợ việc  xác định tiền lãi chậm trả, phạt vi phạm và bồi thường là một vấn đề đáng lưu ý.

Đừng bỏ qua: Cách xác định tiền lãi chậm trả, phạt vi phạm và bồi thường trong quan hệ thương mại theo Án lệ số 09/2016/AL?

Trong vòng 8 ngày làm việc, Tòa Án sẽ xem xét và thông báo về kết quả thụ lý là chấp nhận hoặc không chấp nhận và trả lại những tài liệu, hồ sơ đã được nộp.

Ngay khi Tòa Án thụ lý yêu cầu khởi kiện, bị đơn sẽ chính thức tham gia vào vụ kiện. Tòa Án sẽ thông báo đến bị đơn về vụ kiện. Cơ quan này cũng yêu cầu bị đơn nộp một văn bản trình bày ý kiến về những vấn đề nêu trong yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và nhũng yêu cầu của bị đơn đối với nguyên đơn (nếu có). Bị đơn cũng có thể phản tố đối với nguyên đơn.

Tòa án sẽ tổ chức một hoặc nhiều buổi họp hòa giải trong thời hạn không quá 6 tháng kể từ ngày thụ lý vụ án. Trong một buổi hòa giải, nguyên đơn và bị đơn có thể bàn bạc và thống nhất hướng giải quyết mâu thuẫn của họ dưới dự chứng kiến của Tòa Án. Cả hai bên có thể cung cấp thêm những chứng cứ, tài liệu liên quan để bổ trợ cho ý kiến của mình đối với bên kia. Vì buổi họp hòa giải là bắt buộc nên một bên có thể trì hoãn, kéo dài thủ tục sơ thẩm bằng cách không tham gia buổi họp với một lý do phù hợp.

Nếu cả hai bên không thể đạt được thỏa thuận trong một hoặc vài buổi họp hòa giải, Tòa Án sẽ ghi nhận việc hòa giải không thành. Tòa Án sẽ ban hành quyết định đưa vụ án ra xét xử trong vòng 02 tháng kế tiếp. Dựa vào những đánh giá đối với những tài liệu được cung cấp và giải trình của mỗi bên tại phiên tòa, Tòa Án sẽ ban hành một bản án về việc giải quyết vụ án.

Lưu ý rằng, trong thủ tục xét sử sơ thẩm, Tòa Án có thể xem xét và áp dụng các một hoặc nhiều quyết định đặc biệt. Những quyết định đó là áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, triệu tập người làm chứng/ phiên dịch viên, yêu cầu thẩm định, thu thập hoặc bảo vệ chứng cứ, tống đạt tài liệu ra nước ngoài… Những quyết định đó cũng có thể ảnh hưởng đến kết quả của vụ kiện.

(ii) Phiên xét xử phúc thẩm

Trong phiên xét xử phúc thẩm, Tòa Án chỉ xem xét những vấn đề mà một bên kháng cáo. Những vấn đề kháng cáo đó có thể là một phần hoặc toàn bộ bản án của tòa án sơ thẩm. Tòa Án cấp phúc thẩm có thể đưa ra những quyết định sau:

  • giữ nguyên hiệu lực của bản án sơ thẩm;
  • trực tiếp sửa bản án sơ thẩm;
  • hủy một phần hoặc toàn bộ bản án sơ thẩm và yêu cầu giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm;
  • đình chỉ xét xử phúc thẩm; hoặc
  • tạm đình chỉ giải quyết vụ án.

Khi Tòa Án cấp phúc thẩm ra phán quyết yêu cầu giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm, cả nguyên đơn và bị đơn sẽ tham phiên tòa sơ thẩm một lần nữa.

Bên cạnh đó, khi một bản án sơ thẩm hoặc một bản án phúc thẩm có hiệu lực (“Bản Án Có Hiệu Lực”), bản án đó không thể bị xét xử lại. Tòa Án cấp trên có thể sẽ xem xét Bản Án Có Hiệu Lực nhưng dưới một hình thức khác là giám đốc thẩm và/hoặc tái thẩm.

Đối với trường hợp giám đốc thẩm, Tòa Án sẽ xem xét vụ án dựa trên những phát hiện sai phạm trong quá trình ban hành Bản Án Có Hiệu Lực hoặc những vi phạm pháp luật trong tố tụng tại tòa.

Mặt khác, nếu có một thông tin mới và/hoặc chứng cứ của một vụ kiện đã được giải quyết, Tòa Án sẽ ra quyết định tái thẩm. Tuy nhiên, những phát hiện mới để thực hiện thủ tục tái thẩm phải có ảnh hưởng tới kết quả của Bản Án Có Hiệu Lực.

Đừng bỏ qua: Doanh nghiệp nên chú ý gì trước khi khởi kiện các tranh chấp thương mại?

2. Những khó khăn mà các bên gặp phải trong một vụ kiện

Dựa vào kinh nghiệm của chúng tôi, những khó khăn đó là:

  1. Thứ nhất, khi khởi kiện tại Tòa Án, nguyên đơn phải cung cấp những tài liệu của bị đơn. Chúng có thể là bản sao giấy tờ tùy thân (nếu là cá nhân) hoặc giấy chứng nhận thành lập (nếu là công ty hay tổ chức). Tuy nhiên, những tài liệu này thuộc sở hữu của bị đơn và nguyên đơn khó có thể thu thập chúng từ phía bị đơn với mục đích khởi kiện chính người đó.
  2. Thứ hai, có sự không thống nhất trong việc hiểu và áp dụng quy định pháp luật của thẩm phán giữa các Tòa Án mặc dù đã có một số hướng dẫn áp dụng pháp luật của Tòa Án Nhân Dân Tối Cao.
  3. Thứ ba, giám đốc thẩm và tái thẩm là những thủ tục xét xử đặc biệt và không cấu thành một phiên xét xử thứ ba. Do đó, vụ kiện sẽ lại được xét xử lại theo thủ tục sơ thẩm hoặc phúc thẩm.
  4. Thứ tư, nguyên đơn hay bị đon không thể yêu cầu Tòa Án tiến hành thủ tục giám đốc thẩm và/hoặc tái thẩm. Chỉ những người được trao thẩm quyền yêu cầu mới có quyền yêu cầu Tòa Án thực hiện thủ tục giám đốc thẩm và/hoặc tái thẩm. Họ bao gồm:
    • Chánh án của Tòa Án Nhân Dân Tối Cao hoặc Tòa Án Nhân Dân Cấp Cao; hoặc
    • Viện trưởng của Viện Kiểm Sát Tối Cao hoặc của Viện Kiểm Sát Nhân Dân Cấp Cao.

Đừng bỏ qua: Người sử dụng lao động yêu cầu người lao động bồi hoàn chi phí đào tạo như thế nào?

3. Khả năng thi hành bản án có hiệu lực của một vụ kiện

Vấn đề quan trọng nhất đối với bên thắng kiện đó là Bản Án Có Hiệu Lực không thể được thi hành trên thực tiễn bởi một số lý do sau:

  1. Khi bản án của Tòa Án có hiệu lực, bên thua kiện sẽ phải thực hiện nghĩa vụ của mình hoàn toàn dựa trên sự tự nguyện. Do đó, họ sẽ không tự nguyên tuân theo những hành động bị yêu cầu, ví dụ như hoàn trả nợ, hủy bỏ hành vi vi phạm…; hoặc
  2. Một khó khăn khác là bên thua kiện không có tài sản để thực hiện nghĩa vụ đối với bên thắng kiện. Nếu bên thua kiện có ý định trì hoãn nghĩa vụ, bên thắng kiện có thể nhờ sự trợ giúp thi hành án từ Cơ Quan Thi Hành Án Dân Sự địa phương. Trên thực tế, phương pháp này là không hiệu quả bởi vì tỷ lệ thanh toán nợ được ghi nhận thường dưới 50% tổng số vụ kiện.

Đừng bỏ qua: Công nhận và cho thi hành bản án dân sự của tòa án, phán quyết trọng tài nước ngoài tại Việt Nam

Mặc dù có những điều khó khăn để có thể hỗ trợ trong một vụ kiện, luật sư của chúng tôi thường trao đổi thường xuyên với khách hàng. Mục đích để có một chiến thuật về vụ kiện dựa trên kinh nghiệm của chúng tôi. Hỗ trợ khách hàng nhìn thấy trước được những điều đó và lên kế hoạch là bổn phận của chúng tôi.

Nếu bạn có bất kỳ câu hỏi hoặc góp ý về nội dung trên, vui lòng liên hệ với chúng tôi qua địa chỉ consult@blawyersvn.com. BLawyers Vietnam rất muốn nghe từ bạn!

Có thể bạn muốn tìm hiểu thêm:

Công nhận và cho thi hành bản án dân sự của tòa án, phán quyết trọng tài nước ngoài tại Việt Nam

Doanh nghiệp nên chú ý gì trước khi khởi kiện các tranh chấp thương mại

Một bên có thể yêu cầu tăng mức cấp dưỡng cho con sau ly hôn không?

blawyersvn-cta-image

Yêu cầu tư vấn luật miễn phí

Vui lòng gọi cho chúng tôi hoặc điền vào mẫu đơn bên dưới. Chúng tôi sẽ phản hồi bạn trong vòng 24 giờ đồng hồ.

  • This field is for validation purposes and should be left unchanged.